Tóm tắt: Trong bối cảnh thế giới và khu vực đang biến đổi nhanh chóng, các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng cả về quy mô, mức độ và tính chất phức tạp, tác động trực tiếp đến an ninh con người. Bài viết phân tích những thành tựu của việc bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam; những vấn đề đặt ra trước các thách thức của an ninh phi truyền thống, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, góp phần bảo đảm an ninh con người, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước.
TS HOÀNG VĂN KHẢI
Học viện Chính trị khu vực IV

1. Mở đầu
Vấn đề an ninh con người xuất hiện vào những năm 90 thế kỷ XX, giữ vị trí quan trọng trong bốn lĩnh vực an ninh chủ yếu (cùng với an ninh quốc gia, an ninh công cộng và an ninh phi truyền thống). Khái niệm “An ninh con người” lần đầu tiên được nêu trong Báo cáo Phát triển Con người của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) năm 1994. Theo đó, an ninh con người là: sự an toàn trước các mối đe dọa kinh niên như đói kém, bệnh tật và áp bức; bảo vệ khỏi sự gián đoạn đột ngột và gây tổn hại trong cuộc sống hằng ngày, cho dù tại nơi làm việc, ở nhà hay trong các cộng đồng(1). UNDP đề xuất, an ninh con người được hình thành từ 7 thành tố cơ bản, bao gồm:
An ninh kinh tế: là việc bảo đảm cho cá nhân có được mức thu nhập ổn định trước các mối đe dọa.
An ninh lương thực: là số lượng lương thực, thực phẩm có sẵn đủ để cung cấp mọi nhu cầu ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào; điều kiện và khả năng của người được cung cấp có thể tiếp nhận lương thực, thực phẩm mà không gặp khó khăn để đáp ứng nhu cầu ăn uống phù hợp nhằm mục đích có cuộc sống tích cực và lành mạnh.
An ninh y tế (sức khỏe): là sự bảo đảm cơ hội tiếp cận hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân.
An ninh môi trường: là việc tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh, không khí sạch và đất đai không bị bạc màu; đồng thời, là sự an toàn của con người trước thiên tai và các sự cố
môi trường.
An ninh cá nhân: là việc bảo vệ an toàn cho cá nhân khỏi các hành vi bạo lực về thể chất và tinh thần.
An ninh cộng đồng: đề cập đến một trật tự xã hội và sự an toàn của các cộng đồng dân cư khỏi các mối đe dọa hoặc xung đột xã hội cũng như cơ hội phát triển các giá trị cốt lõi của cộng đồng.
An ninh chính trị: là con người phải được sống trong một môi trường chính trị - xã hội có sự tôn trọng về phẩm giá; quyền con người được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ.
2. Nội dung
2.1. Những thành tựu của bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thuật ngữ “An ninh con người” lần đầu tiên được đề cập và ghi nhận trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng. Đại hội nêu ra 6 nhiệm vụ trọng tâm của đất nước, trong đó có nội dung “tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người”(2). Đến Đại hội XIII, “vấn đề an ninh con người” được Đảng đánh giá khá toàn diện, đặt nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động. Đại hội XIII đặt ưu tiên cao đối với các mục tiêu xã hội và mục tiêu phát triển con người, vì con người và do con người, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển; bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị, xã hội và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng. Đại hội khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(3).
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới cho thấy, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế tăng trưởng khá, trở thành một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới; quy mô GDP năm 2023 đạt 430 tỷ USD, gấp hơn 10 lần so với năm 2000; thu nhập bình quân đầu người đạt 4.284 USD(4). Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng; tình hình chính trị ổn định; đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên. An sinh và phúc lợi xã hội được bảo đảm tốt hơn; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ khoảng 70% năm 1990 xuống còn 5,71% theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2023(5). Phát triển con người từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Chỉ số phát triển con người HDI năm 2023 đạt 0.766, xếp thứ 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ(6). Các chỉ tiêu xã hội được cải thiện rõ rệt: tuổi thọ trung bình tăng cao, nhiều chỉ báo về giáo dục, y tế, an sinh tăng trưởng ổn định. Những kết quả này góp phần củng cố nền tảng bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và tăng cường an ninh con người.
Trên cơ sở đánh giá những thành tựu, hạn chế liên quan đến bảo đảm an ninh con người trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, Đại hội XIII xác định định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030: “Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người”(7). Một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ Đại hội XIII là: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc...; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người..., nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”(8).
Mục tiêu trên được triển khai trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, phức tạp và khó lường. Thế giới và khu vực diễn ra cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột vũ trang và dịch bệnh toàn cầu; trong nước có nhiều thách thức về an ninh chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hóa, xã hội; các nguy cơ từ môi trường như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm nguồn nước, không khí, rác thải, hóa chất tồn dư trong thực phẩm... đã tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó là những vấn đề về việc làm, an ninh cộng đồng, sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... đang đe dọa trực tiếp an ninh xã hội và an ninh con người, trở thành vấn đề cấp bách hiện nay.
2.2. Một số vấn đề đặt ra trong bảo đảm an ninh con người trước các thách thức của an ninh phi truyền thống trong bối cảnh mới
Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng mang lại nhiều cơ hội, đồng thời đặt ra không ít nguy cơ, thách thức, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình phát triển và bảo đảm an ninh con người. Đại hội XIII chỉ rõ: “Quản lý phát triển xã hội và giải quyết một số vấn đề xã hội chưa được quan tâm đúng mức, chưa được kết hợp đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa; thể chế quản lý xã hội còn nhiều hạn chế; tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn, xung đột xã hội... ở một số nơi chậm được khắc phục, gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Giảm nghèo chưa bền vững, chưa có giải pháp hữu hiệu để xử lý vấn đề phân hóa giàu - nghèo, gia tăng bất bình đẳng về thu nhập, kiểm soát và xử lý các mâu thuẫn, xung đột xã hội. Chất lượng dịch vụ y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, có mặt còn bất cập. Chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phúc lợi xã hội có mặt còn hạn chế; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa”(9).
Về an ninh kinh tế, năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Cải cách chính sách tiền lương chậm; thu nhập của phần lớn cán bộ, công chức, viên chức và người lao động còn thấp; lương tối thiểu chưa đáp ứng mức sống tối thiểu. Tỷ lệ lao động làm việc không ổn định, lao động trong khu vực phi chính thức còn cao; cơ chế bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhóm lao động này còn thiếu. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số và người dân vùng đặc biệt khó khăn vẫn còn nhiều hạn chế.
Về an ninh lương thực, dù Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia hàng đầu về xuất khẩu nông sản, chỉ số an ninh lương thực mới xếp thứ 57/113 quốc gia. Nhiều vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn gặp trở ngại trong tiếp cận lương thực cơ bản, chưa bảo đảm mức dinh dưỡng thiết yếu cho cuộc sống khỏe mạnh. Một số vùng sản xuất lương thực trọng điểm của cả nước đối mặt với thách thức về thâm canh lúa, bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống nông dân; đặc biệt là các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa chịu tác động bất thường của thiên tai.
Về an ninh y tế, hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế ở một số địa phương thiếu và chưa đạt chuẩn; chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản có sự chênh lệch lớn giữa các tuyến và giữa các vùng, miền. Cơ chế quản lý hoạt động của các bệnh viện công nhiều nơi còn lúng túng, đặc biệt trong đấu thầu vật tư y tế, quản lý việc đặt, mượn thiết bị chuyên sâu. Tiến độ khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện còn chậm, nhất là ở tuyến cuối. Công tác quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân, thuốc chữa bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều bất cập. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn hạn chế, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt 73,64 tuổi, nhưng tuổi thọ khỏe mạnh chỉ đạt 62,8 tuổi ở nam và 68 tuổi ở nữ; mỗi người cao tuổi trung bình mắc khoảng ba bệnh(10)... Tình trạng thực phẩm bẩn, thực phẩm giả, thực phẩm không an toàn vẫn gây lo ngại; thậm chí xuất hiện thực phẩm chứa ma túy quanh một số trường học, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe học sinh và gây bức xúc trong dư luận.
Về an ninh môi trường, Việt Nam hiện vẫn đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng về an ninh môi trường. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây hậu quả ngày càng nặng nề, khó dự báo; ngập úng tại các đô thị lớn diễn biến phức tạp. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lụt, lũ quét, hạn hán liên tiếp xảy ra trên diện rộng, gây thiệt hại lớn. Chất lượng không khí tại nhiều đô thị, nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên vượt ngưỡng cảnh báo. Công tác thu gom, xử lý chất thải, đặc biệt ở các làng nghề chưa đáp ứng yêu cầu. Môi trường đất bị suy thoái do canh tác quá mức, lạm dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.
Về an ninh cá nhân, vấn đề trật tự, an toàn xã hội tại một số địa bàn vẫn diễn biến phức tạp. Tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng với nhiều dạng thức, nổi bật là tội phạm xâm phạm quyền sở hữu, mua bán người, ma túy, tội phạm công nghệ cao và lừa đảo trực tuyến. Đáng chú ý là các hình thức lừa đảo qua mạng, lừa đảo sử dụng công nghệ cao đang ngày càng tăng. Bạo lực học đường có xu hướng tăng; số vụ trẻ em bị tai nạn thương tích, đặc biệt là đuối nước vào mùa hè tiếp tục ở mức cao. Tai nạn giao thông dù giảm nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn.
An ninh cộng đồng, xung đột xã hội có xu hướng gia tăng tại một số vùng, lĩnh vực với tính chất ngày càng phức tạp. Các tranh chấp liên quan đến đất đai; xung đột giữa cộng đồng dân cư với doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường; các vấn đề phát sinh từ “tín dụng đen”, cho vay nặng lãi; mâu thuẫn trong gia đình; tình trạng người nghiện không được quản lý gây mất trật tự v.v... đã ảnh hưởng không nhỏ đến an toàn xã hội, làm gia tăng cảm giác bất an trong đời sống cộng đồng.
Về an ninh chính trị, việc thực hành dân chủ gắn với giữ vững kỷ cương, kỷ luật ở một số nơi còn bất cập; “Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm; vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức”(11); Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn là nguy cơ tác động tiêu cực đến phát triển xã hội.
2.3. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm an ninh con người trước các thách thức của an ninh phi truyền thống
Thứ nhất, tiếp tục xác định, nâng cao nhận thức của toàn hệ thống chính trị và xã hội về vấn đề bảo đảm an ninh con người
Các quan điểm và chủ trương của Đảng cần tiếp tục xác định bảo đảm an ninh con người là nội dung trọng tâm, một chỉ tiêu tổng quát và là nhiệm vụ độc lập trong đánh giá sự phát triển xã hội và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cần xem xét đầy đủ tình hình bảo đảm an ninh con người trên 7 khía cạnh cơ bản như đã nêu, gắn với bối cảnh mới và các tác động ngày càng lớn của an ninh phi truyền thống.
Xây dựng và phát triển nền kinh tế ổn định, có chất lượng, năng suất và hiệu quả; đồng thời hài hòa mục tiêu tăng trưởng với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Thứ hai, đẩy mạnh phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, giải quyết các vấn đề cấp bách trong bảo đảm an ninh con người
Tiếp tục thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 và giai đoạn tiếp theo; huy động các nguồn lực xã hội trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, nhất là đối với các đối tượng yếu thế và ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng dễ bị tổn thương bởi thiên tai. Đối với vấn đề an ninh lương thực, cần chuyển tư duy từ chú trọng sản lượng lương thực (chủ yếu là lúa) sang nâng cao khả năng tiếp cận, chất lượng, sự an toàn của lương thực nói chung, cũng như khả năng chống chịu và thích nghi trước các cú sốc về kinh tế và môi trường, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu - nước biển dâng như hiện nay.
Thứ ba, đẩy mạnh cải cách thể chế, gỡ bỏ các nút thắt nhằm thực hiện tốt hơn các mục tiêu bảo đảm an ninh con người trước những thách thức của an ninh phi truyền thống
Quốc hội tiếp tục ban hành các đạo luật nhằm thúc đẩy bảo đảm an ninh con người, nhất là hoàn thiện các đạo luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó, phát triển bảo hiểm xã hội theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23-5-2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội và Nghị quyết 72-NQ/TW ngày 09-9-2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, trong đó khẳng định vai trò trụ cột của bảo hiểm xã hội, của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy nhanh mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội và lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân; xem xét giảm thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 20 xuống 15 năm theo nguyên tắc “đóng - hưởng” linh hoạt, tạo điều kiện để người lao động gắn bó với hệ thống an sinh. Đồng thời, có chính sách đặc thù cho một số nhóm nghề nghiệp dễ bị tổn thương (phụ nữ, người bán vé số, người lao động độc hại, lái xe công nghệ...); xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ để đơn giản hóa thủ tục và bảo đảm chi trả kịp thời.
Quốc hội xem xét, sửa đổi, bổ sung Luật số 21-LCT/HĐNN8 ngày 30-6-1989 về bảo vệ sức khỏe nhân dân, bởi Luật này đã ban hành gần 40 năm nên nhiều vấn đề nêu trong Luật không còn phù hợp với thực tiễn, nhất là trong bối cảnh những thách thức của an ninh phi truyền thống; một số vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe nhân dân như chăm sóc sức khỏe tâm thần trước ảnh hưởng tiêu cực của internet, mạng xã hội, bạo lực học đường, ảnh hưởng từ các chất ma túy, tiền chất ma túy... Đây là những vấn đề chưa được Luật số 21 đề cập hoặc đề cập chưa đầy đủ; một số điều trong Luật không thống nhất với Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và Luật Phòng, chống tác hại của bia, rượu; một số nội dung về kế hoạch hóa gia đình không phù hợp với tình hình hiện nay; nhiều tên gọi các cơ quan không còn đúng...
Cùng với đó, tăng cường năng lực y tế cơ sở trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nhất là với nhóm yếu thế; đẩy mạnh hướng dẫn, tuyên truyền, bảo đảm an toàn thực phẩm. Nghiên cứu mô hình “Sở An toàn thực phẩm” tại các đô thị lớn; hoàn thiện chế tài xử lý nghiêm các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm.
Tăng cường quản lý internet, mạng xã hội để ngăn chặn tác động độc hại và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an cần nâng cao hiệu quả quản lý nền tảng số; gắn tài khoản mạng xã hội với định danh cá nhân; yêu cầu các mạng xã hội quốc tế đặt máy chủ tại Việt Nam và phối hợp xử lý vi phạm. Kiên quyết xử lý các ứng dụng cho vay nặng lãi, cờ bạc trực tuyến, lô đề; tăng cường công nghệ giám sát, phát hiện thông tin xấu độc, sai sự thật để kịp thời định hướng dư luận; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện Luật An ninh mạng. Đồng thời, phát triển các ứng dụng số của Chính phủ theo hướng tích hợp, an toàn, bảo mật, hỗ trợ người dân phòng tránh lừa đảo trực tuyến.
Bộ Giáo dục và Đào tạo lồng ghép nội dung giáo dục về an ninh con người vào chương trình học; tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, bao gồm an toàn trên không gian mạng, phòng chống bạo lực học đường, kỹ năng an toàn thể chất và ứng phó với tình huống khẩn cấp.
3. Kết luận
Bảo đảm an ninh con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực ổn định xã hội, tạo nền tảng để xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh mới, các thách thức từ an ninh phi truyền thống đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết đối với việc bảo đảm an ninh con người, đòi hỏi toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội phải có nhận thức đầy đủ, khách quan và toàn diện, hướng tới mục tiêu bảo đảm tốt an ninh con người trong bối cảnh mới.
_________________
Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng
Ngày nhận bài: 11-12-2025; Ngày bình duyệt: 30-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-01-2026.
Email: hoangkhaict4@gmail.com
(1) Xem: Nguyễn Nhâm: “An ninh con người”, Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2017.
(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.219.
(3), (7), (8), (9), (11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.25, 147-148, 202, 85-86, 89.
(4) Tô Hà: Quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 430 tỷ USD, https://nhandan.vn, ngày 01-01-2024.
(5) Cổng thông tin điện tử Chính phủ: Công bố tỷ lệ nghèo đa chiều toàn quốc và theo các vùng năm 2023, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn, ngày 21-02-2024.
(6) Trung Hưng: Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao, https://nhandan.vn, ngày 13-05-2025.
(10) Thu Hiến: Vì sao tuổi thọ trung bình người Việt Nam cao, nhưng tuổi khỏe mạnh lại thấp, https://tuoitre.vn, ngày 28-02-2025.