DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.8129
Tóm tắt: Những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách và nguồn lực ưu tiên phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, cũng còn nhiều hạn chế, khó khăn và bất cập. Bài viết tập trung đánh giá thực trạng chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách này ở Gia Lai một cách bền vững.
ThS ĐỖ VĂN HÒA
Trường Chính trị tỉnh Gia Lai

1. Mở đầu
An sinh xã hội là một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững đất nước, phản ánh sâu sắc bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và là quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội gắn với từng chính sách phát triển. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi luôn được Đảng và Nhà nước xác định là địa bàn có tính đặc thù, cần có các cơ chế, chính sách ưu tiên phù hợp nhằm từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, qua đó củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Cùng với việc triển khai đồng bộ các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh Gia Lai đã huy động nhiều nguồn lực để thực hiện các chính sách an sinh xã hội như: giảm nghèo, phát triển sinh kế, bảo hiểm y tế, giáo dục - đào tạo, nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt. Thực hiện các chính sách này đã góp phần quan trọng cải thiện điều kiện sống, nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai vẫn còn không ít hạn chế. Đó là: hiệu quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững; khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế của một bộ phận người dân còn khó khăn; việc hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất gặp nhiều vướng mắc về quỹ đất và thủ tục; chất lượng giáo dục, y tế ở một số vùng sâu, vùng xa chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cần có những phân tích sâu sắc hơn về quá trình thực thi chính sách, không chỉ dừng lại ở mức độ ban hành và nguồn lực đầu tư, mà còn ở hiệu quả thụ hưởng thực tế của người dân.
Bài viết tiếp cận việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai không chỉ từ góc độ kết quả và nguồn lực đầu tư mà còn từ hiệu quả thụ hưởng thực tế và những “điểm nghẽn” trong tổ chức thực hiện chính sách ở cấp cơ sở. Qua đó, bài viết góp phần bổ sung luận cứ thực tiễn cho việc hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng bền vững và phù hợp với điều kiện đặc thù của các tỉnh miền núi, biên giới.
2. Nội dung
2.1. Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai
Tỉnh Gia Lai có diện tích tự nhiên là 21.576,53 km2 (Wikipedia Việt Nam, 2026) với gần 90 km đường biên giới tiếp giáp với Campuchia. Từ 01-7-2025, sau sáp nhập đơn vị hành chính, tỉnh Gia Lai có 135 đơn vị hành chính cấp xã (110 xã, 25 phường) (Ủy ban thường vụ Quốc hội, 2025); có 47 thành phần dân tộc (Bảo tàng Pleiku, 2025), dân số khoảng 3.583.693 người (Quốc hội, 2025), trong đó dân tộc thiểu số 831.497 người, chiếm khoảng 23,20% dân số toàn tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 2025). Các dân tộc thiểu số cư trú đều khắp các địa bàn trong tỉnh; mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, lễ hội riêng, rất phong phú, đa dạng, tạo nên tính thống nhất trong nền văn hóa tại địa phương.
Theo kết quả phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Gia Lai có 198 xã, khu vực I: 104 xã, khu vực II: 29 xã, khu vực III: 65 xã và 500 thôn, làng đặc biệt khó khăn (Thủ tướng Chính phủ, 2021; Ủy ban Dân tộc, 2021); ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 07 xã biên giới và 01 xã căn cứ địa cách mạng (Báo và PTTH Gia Lai, 2025). Theo kết quả rà soát hộ nghèo cuối năm 2024, tỉnh có 28.369 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 3,38% tổng số hộ dân trên địa bàn tỉnh; trong đó số hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số 23.262 hộ, chiếm tỷ lệ 12,95% tổng số hộ đồng bào dân tộc thiểu số toàn tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 2024; Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định, 2024).
Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, việc triển khai các chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai đã đạt nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn những khó khăn nhất định cần khắc phục:
Thứ nhất, về giảm nghèo và hỗ trợ sinh kế
Trong giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Gia Lai đã ưu tiên bố trí và lồng ghép nhiều nguồn lực cho thực hiện các chính sách giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tổng nguồn vốn đầu tư cho chương trình này trên địa bàn tỉnh đạt quy mô lớn là 1.689.475 triệu đồng (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 2025), góp phần tạo điều kiện cải thiện sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân.
Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh và trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm qua các năm. Năm 2024, hộ nghèo của tỉnh giảm 2,04%; 34.546 hộ cận nghèo, chiếm 8,77%, giảm 0,44% so với năm 2023; trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số là 27.671 hộ cận nghèo, chiếm 16,45%, giảm 0,42% (Nguyễn Diệp, 2024). Một số địa phương đạt và vượt chỉ tiêu giảm nghèo theo kế hoạch đề ra, tuy nhiên, hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số hộ nghèo toàn tỉnh.
Thực tiễn cho thấy, mặc dù nguồn lực đầu tư cho giảm nghèo tương đối lớn, song hiệu quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững. Một bộ phận hộ vừa thoát nghèo còn dễ tái nghèo khi gặp rủi ro về thiên tai, dịch bệnh hoặc biến động thị trường, nhất là đối với nhóm hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Do đó, đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh từ hỗ trợ “giảm nghèo theo chiều rộng” sang phát triển sinh kế bền vững, gắn với nâng cao năng lực tự chủ của người dân.
Thứ hai, về hỗ trợ phát triển sản xuất gắn với bảo vệ rừng
Thông qua các tiểu dự án hỗ trợ khoán bảo vệ rừng và bảo vệ rừng, tỉnh Gia Lai đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho hàng chục nghìn lượt hộ đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở các xã vùng sâu, vùng xa, như hỗ trợ khoán bảo vệ gần 505.760ha rừng (được Nhà nước giao cho các ban quản lý rừng phòng hộ; rừng đặc dụng, phòng hộ được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế quản lý; rừng tự nhiên do Ủy ban nhân dân xã quản lý) cho 24.949 lượt hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số và 152 lượt cộng đồng dân cư đang sinh sống ổn định tại các xã khu vực II, III vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, hỗ trợ bảo vệ gần 71.200ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên (Kim Loan, 2025). Chính sách này không chỉ góp phần cải thiện đời sống người dân mà còn nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng trong bảo vệ và phát triển rừng.
Việc gắn hỗ trợ sinh kế với bảo vệ tài nguyên rừng đã tạo ra tác động kép: vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách này còn phụ thuộc lớn vào cơ chế quản lý, giám sát và khả năng duy trì sinh kế lâu dài cho người dân sau khi kết thúc thời gian hỗ trợ.
Thứ ba, về điều kiện nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt
Việc triển khai các chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số đã mang lại những kết quả bước đầu, góp phần ổn định đời sống, hạn chế tình trạng du canh, du cư và phá rừng làm rẫy. Đến tháng 7-2023 (nằm trong giai đoạn 1 từ năm 2021 - 2025 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030), tỉnh Gia Lai đã giải ngân 4,040 tỷ đồng để hỗ trợ nhà ở 89 hộ đồng bào dân tộc thiểu số (3,916 tỷ đồng) và hỗ trợ đất sản xuất 6 hộ đồng bào dân tộc thiểu số (124 triệu đồng) (Thùy Dương, 2023). Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã đầu tư xây dựng 18 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, mang lại lợi ích thiết thực cho gần 4.000 hộ dân. Đồng thời, hỗ trợ thiết bị cấp nước sinh hoạt phân tán cho hơn 9.200 hộ ở các xã vùng sâu, vùng xa. Nhất là việc hỗ trợ nước sinh hoạt đối với các hộ nghèo người dân tộc thiểu số (Duy Đăng, 2025). Nhiều hộ nghèo đã có điều kiện cải thiện chỗ ở và tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đây là nhóm chính sách triển khai gặp nhiều khó khăn nhất. Hạn chế về quỹ đất, mức hỗ trợ còn thấp so với giá thị trường, thủ tục hành chính phức tạp và vướng mắc về pháp lý đất đai đã làm chậm tiến độ thực hiện, dẫn đến tỷ lệ giải ngân chưa cao. Những khó khăn này phản ánh sự chưa đồng bộ giữa thiết kế chính sách và điều kiện thực tế ở địa phương.
Thứ tư, về mở rộng tiếp cận bảo hiểm y tế
Chính sách hỗ trợ tham gia bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm gánh nặng chi phí y tế cho người dân. Tuy nhiên, việc điều chỉnh phân định vùng theo các quyết định của Chính phủ trong giai đoạn 2021 - 2025 đã làm thay đổi diện bao phủ của chính sách, khiến một bộ phận lớn người dân không còn được hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế. Chẳng hạn, thực hiện Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04-6-2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 và Quyết định số 433/QĐ-UBDT ngày 18-6-2021 của Ủy ban Dân tộc về phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, Gia Lai giảm 19 xã khu vực III, 89 xã khu vực II và giảm 87 thôn, làng đặc biệt khó khăn so với giai đoạn trước, dẫn tới có trên 271 nghìn người bị tác động, thôi hưởng chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế, khiến tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của tỉnh giảm xuống còn 73%. Tổng số người dân tộc thiểu số bị tác động theo Quyết định số 861/QĐ-TTg khoảng trên 120 nghìn người. Như vậy, dù tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế được cải thiện trở lại nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, song tính ổn định và bền vững của chính sách vẫn là vấn đề đặt ra, đặc biệt đối với các nhóm dân cư vừa thoát khỏi diện hỗ trợ nhưng chưa có khả năng tự bảo đảm an sinh.
Thứ năm, về đầu tư cho giáo dục - đào tạo
Tỉnh Gia Lai đã ưu tiên đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, tạo điều kiện cải thiện môi trường dạy và học cho học sinh dân tộc thiểu số. Theo đó, đã tập trung đầu tư sửa chữa, xây dựng 28 trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú. Bên cạnh đó, đã đầu tư mua sắm 119 bộ máy vi tính, 145 bảng trượt, 439 giường tầng nội trú, 155 tủ đựng đồ cá nhân phục vụ hoạt động dạy và học cho các trường phổ thông dân tộc nội trú và phổ thông dân tộc bán trú (Duy Đăng, 2025). Nhờ đó, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình học và chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên.
Tuy nhiên, khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các địa bàn trong tỉnh vẫn còn khá lớn, nhất là một số xã vùng sâu, vùng xa phía Tây, cơ sở vật chất trường lớp còn thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ, rào cản ngôn ngữ vẫn là thách thức lớn đối với học sinh dân tộc thiểu số, như Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Quang Trung (xã Ia Tul). Điều này đặt ra yêu cầu phải có các giải pháp phù hợp hơn nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong dài hạn.
Nhìn tổng thể, những hạn chế trong thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai phản ánh không chỉ khó khăn của địa phương, mà còn là thách thức chung trong hoạch định, quản trị chính sách an sinh xã hội ở các vùng có điều kiện phát triển đặc thù, đòi hỏi cách tiếp cận linh hoạt hơn giữa thiết kế chính sách và tổ chức thực hiện.
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai
Một là, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội và đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Gia Lai là tỉnh có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, nhiều khu vực miền núi, biên giới, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, hạn hán, nhất là khu vực phía Tây. Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn, sinh kế phụ thuộc lớn vào nông nghiệp truyền thống, quy mô nhỏ lẻ, năng suất thấp và thiếu tính bền vững. Đây là những yếu tố khách quan làm hạn chế khả năng tiếp cận và thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội.
Thực tế cho thấy, tình trạng thiếu hụt việc làm vẫn còn phổ biến, với hàng nghìn hộ nghèo và cận nghèo không có việc làm hoặc việc làm không ổn định; nhiều hộ có số người phụ thuộc cao (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 2025). Bên cạnh đó là các thiếu hụt đa chiều về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường và tiếp cận thông tin. Điều này cho thấy, xuất phát điểm thấp và những rào cản về điều kiện tự nhiên - xã hội đã làm giảm hiệu quả của chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Hai là, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội
Một số chính sách an sinh xã hội hiện hành còn mang tính dàn trải, định mức hỗ trợ thấp, chưa theo kịp biến động giá cả thị trường và chưa phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. Đặc biệt, các chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt, mức hỗ trợ còn thấp so với nhu cầu thực tế, dẫn đến tiến độ triển khai chậm và tỷ lệ giải ngân thấp.
Bên cạnh đó, việc lồng ghép, phối hợp giữa các chương trình mục tiêu quốc gia tuy đã được triển khai nhưng vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa thực sự linh hoạt. Một số quy định về thủ tục hành chính, điều kiện thụ hưởng còn phức tạp, thời gian hoàn thiện hồ sơ kéo dài, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chính sách của người dân. Việc điều chỉnh địa bàn theo các quyết định phân định vùng, đặc biệt là tác động của Quyết định số 861/QĐ-TTg cũng làm thay đổi diện bao phủ của một số chính sách, gây khó khăn cho người dân trong việc duy trì tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội, nhất là bảo hiểm y tế.
Ba là, nhận thức, năng lực và tâm lý của một bộ phận người thụ hưởng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số
Một bộ phận hộ nghèo, hộ cận nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số chưa đồng đều về trình độ học vấn, kỹ năng lao động và kiến thức tổ chức sản xuất; chưa mạnh dạn đổi mới phương thức sản xuất, đa dạng hóa sinh kế. Tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước vẫn còn tồn tại, làm giảm động lực vươn lên thoát nghèo một cách bền vững.
Ngoài ra, không ít trường hợp thuộc diện hộ nghèo là người già neo đơn, người thường xuyên ốm đau, gia đình đông con, thiếu đất sản xuất hoặc gặp rủi ro do bệnh hiểm nghèo, tai nạn, dẫn đến khả năng tự cải thiện đời sống rất hạn chế. Một bộ phận nhỏ người dân chưa thực sự quan tâm đến việc tham gia các lớp đào tạo nghề, chưa chủ động tiếp cận thông tin thị trường lao động và các dịch vụ an sinh xã hội, từ đó làm giảm hiệu quả tác động của chính sách. Năng lực tổ chức thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ cơ sở ở một số địa bàn còn hạn chế; việc theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chính sách chưa kịp thời. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đưa chính sách an sinh xã hội vào cuộc sống.
2.3. Giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai thời gian tới
Xuất phát từ những hạn chế và nguyên nhân đã phân tích, để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai trong thời gian tới, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức và khơi dậy nội lực của đồng bào dân tộc thiểu số trong thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về an sinh xã hội theo hướng dễ hiểu, phù hợp với trình độ, phong tục, tập quán và đặc điểm văn hóa của từng dân tộc. Nội dung tuyên truyền cần tập trung làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi tham gia các chính sách an sinh xã hội, góp phần thay đổi “nếp nghĩ, cách làm”, khắc phục tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
Đồng thời, phát huy vai trò của già làng, người có uy tín, trưởng thôn, cán bộ cơ sở trong việc vận động, hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số chủ động tham gia các chương trình đào tạo nghề, phát triển sản xuất, tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội tự nguyện và các dịch vụ xã hội cơ bản khác. Qua đó, từng bước khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh của người dân.
Thứ hai, hoàn thiện thiết kế chính sách và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các chương trình an sinh xã hội.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, cần tiếp tục rà soát, đánh giá toàn diện các chương trình, chính sách an sinh xã hội đang triển khai trên địa bàn tỉnh, nhất là các chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và bảo hiểm y tế, để kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng cân đối nguồn lực.
Cần đẩy mạnh lồng ghép, phối hợp hiệu quả giữa các chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm thống nhất về mục tiêu, đối tượng, địa bàn và cơ chế thực hiện; hạn chế tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực. Đồng thời, cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, minh bạch, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp cận và thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội.
Thứ ba, tập trung phát triển sinh kế bền vững, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Phát triển sinh kế bền vững là giải pháp then chốt nhằm nâng cao hiệu quả an sinh xã hội một cách hiệu quả nhất. Theo đó, tỉnh cần tiếp tục triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế, gắn với lợi thế về nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế rừng và điều kiện sinh thái đặc thù của từng địa bàn.
Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động và khả năng giải quyết việc làm sau đào tạo. Ưu tiên các nghề phù hợp với điều kiện địa phương và khả năng tiếp cận của người lao động, đồng thời tăng cường kết nối với doanh nghiệp để mở rộng cơ hội việc làm, kể cả việc làm tại chỗ và xuất khẩu lao động.
Thứ tư, nâng cao khả năng tiếp cận và chất lượng các dịch vụ xã hội cơ bản.
Cần tiếp tục ưu tiên đầu tư nâng cấp hạ tầng giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường và thông tin ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới. Trong lĩnh vực y tế, cần có giải pháp hỗ trợ phù hợp để mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế, đặc biệt đối với các đối tượng bị tác động do điều chỉnh địa bàn, bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân.
Trong lĩnh vực giáo dục, chú trọng nâng cao chất lượng dạy và học ở các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; quan tâm giải quyết rào cản ngôn ngữ, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và điều kiện học tập cho học sinh dân tộc thiểu số. Qua đó, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong dài hạn.
Thứ năm, tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Bên cạnh nguồn lực từ ngân sách nhà nước, cần chú trọng huy động các nguồn lực hợp pháp khác từ doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng để bổ sung cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Việc huy động và phân bổ nguồn lực cần bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng mục tiêu, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đồng thời, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội ở cơ sở, bảo đảm đủ trình độ, kỹ năng và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện chính sách. Đây là yếu tố quan trọng góp phần đưa chính sách an sinh xã hội đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả thực chất và bền vững.
3. Kết luận
An sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững đất nước, thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng về bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau. Thực tiễn triển khai chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Gia Lai những năm qua cho thấy, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, song việc thực hiện chính sách vẫn còn không ít hạn chế, thể hiện ở tính bền vững của giảm nghèo chưa cao, sự thiếu ổn định trong tiếp cận bảo hiểm y tế, những vướng mắc trong hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, cũng như khoảng cách về chất lượng giáo dục và y tế giữa các vùng trong tỉnh.
Những hạn chế này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân đan xen, bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù, những bất cập trong thiết kế và tổ chức thực hiện chính sách, cùng với hạn chế về nhận thức và năng lực của một bộ phận người thụ hưởng và cán bộ cơ sở. Từ đó, cần có giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trong thời gian tới, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai. Qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
_________________
Ngày nhận bài: 06-01-2026; Ngày bình duyệt:29-01-2026; Ngày duyệt đăng: 24-3-2026.
Email tác giả: hoadv77gl@gmail.com
Báo và Phát thanh, Truyền hình Gia Lai (2025). Gia Lai: 8 đơn vị hành chính cấp xã không thực hiện sắp xếp. https://gialaitv.vn
Bảo tàng Pleiku (2025). Chuyển biến về thành phần các dân tộc tỉnh Gia Lai sau sáp nhập. https://baotangpleiku.gialai.gov.vn
Duy Đăng (2025). Đầu tư hạ tầng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số. https://baogialai.com.vn
Kim Loan (2025). Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 - 2030: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS và miền núi. https://gialai.gov.vn
Nguyễn Diệp (2024). Gia Lai còn 23.886 hộ nghèo theo chuẩn đa chiều. https://baogialai.com.vn
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12-6-2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04-6-2021 về phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025.
Thùy Dương (2023). Gia Lai hỗ trợ nhà ở, đất sản xuất cho 95 hộ đồng bào dân tộc thiểu số. https://daibieunhandan.vn
Ủy ban Dân tộc (2021). Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16-9-2021 về việc phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025.
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định (2025). Quyết định số 220/QĐ-UBND ngày 16-01-2025 về việc phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2024). Quyết định số 545/QĐ-UBND ngày 18-11-2024 về việc phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2025). Báo cáo số 174/BC-UBND ngày 18-12-2025 về kết quả rà soát, xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2025). Kế hoạch số 63/KH-UBND ngày 12-9-2025 về thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn các xã, phường phía Tây tỉnh Gia Lai năm 2025.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1664/NQ-UBTVHQ15 ngày 16-6-2025 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Gia Lai năm 2025.
Wikipedia Việt Nam (2026). Gia Lai. https://vi.wikipedia.org