DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2105
Tóm tắt: Bài viết phân tích bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ môi trường, thể hiện qua Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV với việc xác định “phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”. Trên cơ sở tiếp cận lịch đại, bài viết khái quát quá trình phát triển quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường từ đầu thời kỳ đổi mới đến nay. Từ góc nhìn lý luận và thực tiễn, bài viết cho thấy quan điểm “bảo vệ môi trường là trung tâm” không chỉ xuất phát từ sự phát triển nội tại của tư duy lý luận, mà còn đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới với những thách thức môi trường toàn cầu và các cam kết quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam. Qua đó, bài viết khẳng định việc xác lập bảo vệ môi trường là trung tâm thể hiện tầm nhìn chiến lược và định hướng phát triển nhân văn, bền vững của Đảng trong thế kỷ XXI.
GS, TS NGUYỄN TUẤN ANH
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn,
Đại học quốc gia Hà Nội

1. Mở đầu
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đã bổ sung một điểm mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển bền vững đất nước, đó là xác định: “phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về mặt ngôn từ hay mở rộng phạm vi một vài khái niệm, mà là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về mô hình, con đường phát triển đất nước. Với quan điểm này, bảo vệ môi trường được đặt ngang hàng với phát triển kinh tế và xã hôi trong cấu trúc trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia, phản ánh nhận thức ngày càng toàn diện, sâu sắc và hệ thống về phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột không thể tách rời: kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, khi thế giới đang phải đối mặt với khủng hoảng khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và những thách thức ngày càng rõ nét về an ninh sinh thái, việc điều chỉnh tư duy phát triển trở thành yêu cầu khách quan. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai cực đoan và suy thoái hệ sinh thái. Những thách thức này không chỉ đe dọa tăng trưởng kinh tế, mà còn tác động trực tiếp đến đời sống, sinh kế, sức khỏe và an sinh xã hội của nhân dân. Trong bối cảnh đó, việc đưa “bảo vệ môi trường” lên vị thế “trung tâm” thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược và tư duy chủ động của Đảng trong việc định hình con đường phát triển dài hạn cho đất nước.
2. Nội dung
2.1. Quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững từ khi tiến hành đổi mới đât nước
Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là kết quả của một quá trình vận động, bổ sung và phát triển liên tục, gắn liền với thực tiễn đổi mới đất nước. Tại Đại hội VI của Đảng (năm 1986), “Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1986 - 1990” đã nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng và bảo vệ vốn rừng” nhằm “bảo vệ môi trường sống”(1). Điều này cho thấy, ngay từ thời điểm khởi xướng công cuộc đổi mới, bảo vệ môi trường đã được xác định là một quan điểm chỉ đạo quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã đưa ra quan điểm chỉ đạo quan trọng về bảo vệ môi trường: “tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và các thế hệ mai sau”(2). Đây là lần đầu tiên trong Cương lĩnh của Đảng, vấn đề bảo vệ môi trường được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với trách nhiệm liên thế hệ, thể hiện nhận thức có ý nghĩa nền tảng của Đảng về tính lâu dài và bền vững của quá trình phát triển.
Văn kiện Đại hội VIII (năm 1996), Đảng tiếp tục khẳng định “tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”(3). Việc đưa yêu cầu bảo vệ môi trường vào hệ mục tiêu phát triển chung cho thấy Đảng ngày càng nhận thức rõ hơn rằng quá trình công nghiệp hóa, nếu không được định hướng và kiểm soát hợp lý, sẽ kéo theo những hệ lụy nghiêm trọng về sinh thái và xã hội.
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội, năm 1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Chỉ thị này đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy và hành động của Đảng, khi lần đầu tiên công tác bảo vệ môi trường được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chỉ thị nhấn mạnh “ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường của những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lương cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(4).
Như vậy, trong giai đoạn 1996 - 2000, quan điểm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ môi trường đã có sự phát triển rõ rệt cả về chiều sâu nhận thức lẫn mức độ cụ thể hóa chính sách. Bảo vệ môi trường được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời trọng tâm được xác định rõ là ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm tại các đô thị và khu công nghiệp - những khu vực động lực của tăng trưởng nhưng cũng là nơi tập trung nhiều rủi ro môi trường nhất. Cách tiếp cận này đã tạo tiền đề quan trọng cho việc hình thành tư duy phát triển bền vững rõ nét hơn trong các kỳ Đại hội tiếp theo.
Tại Đại hội IX của Đảng (năm 2001), lần đầu tiên Đảng khẳng định rõ ràng đường lối “bảo vệ và cải thiện môi trường” như một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước(5).Việc sử dụng đồng thời hai khái niệm “bảo vệ” và “cải thiện” cho thấy nhận thức của Đảng đã có bước phát triển mới: môi trường không chỉ cần được gìn giữ trước các nguy cơ suy thoái, mà còn phải được chủ động cải thiện, phục hồi trong những khu vực đã và đang chịu tác động tiêu cực của quá trình phát triển. Đây là dấu mốc cho thấy tư duy về môi trường đã vượt qua cách tiếp cận phòng ngừa đơn thuần, hướng tới một tầm nhìn tích cực và dài hạn hơn.
Đặc biệt, năm 2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết đã xác định ba mục tiêu có tính định hướng chiến lược lâu dài. Thứ nhất là “Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra. Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học”. Thứ hai là “Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường”. Thứ ba là “Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên”(6). Ba mục tiêu này cho thấy môi trường đã được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và định hướng phát triển bền vững lâu dài của đất nước. Như vậy, từ Đại hội IX, quan điểm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ môi trường đã được cụ thể hóa trên nhiều phương diện và ở mức độ ngày càng sâu sắc.
Trong Văn kiện Đại hội XI (năm 2011), Đảng đã thể hiện bước phát triển rõ rệt trong cách tiếp cận đối với vấn đề bảo vệ môi trường, khi nhấn mạnh yêu cầu nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt là của đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp. Đại hội chỉ rõ cần phải “Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của cán bộ lãnh đạo các cấp về bảo vệ môi trường... xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án đầu tư. Các dự án, công trình đầu tư xây dựng mới bắt buộc phải thực hiện nghiêm các quy định bảo vệ môi trường”(7). Nội dung chỉ đạo này cho thấy bảo vệ môi trường đã không còn được xem là nhiệm vụ riêng của một số ngành, lĩnh vực, mà trở thành trách nhiệm chung của toàn xã hội, đồng thời được lồng ghép trực tiếp vào các khâu then chốt của quá trình hoạch định và triển khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển.
Nhận thức đó tiếp tục được nâng lên một bước quan trọng khi năm 2013 Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nghị quyết đã xác định rõ mục tiêu tổng quát cho cả trung hạn và dài hạn. Cụ thể, đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu “về cơ bản, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường”(8).
Về tầm nhìn dài hạn, đến năm 2050, mục tiêu được xác định là “chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững tài nguyên; bảo đảm chất lượng môi trường sống và cân bằng sinh thái, phấn đấu đạt các chỉ tiêu về môi trường tương đương với mức hiện nay của các nước công nghiệp phát triển trong khu vực”(9).
Việc đặt ra các mốc mục tiêu cụ thể theo thời gian cho thấy bảo vệ môi trường đã được tiếp cận như một chiến lược phát triển dài hạn, gắn với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng và hội nhập quốc tế.
Như vậy, quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường đã có bước phát triển mang tính hệ thống và chiến lược. Trọng tâm không chỉ nằm ở xử lý ô nhiễm hay khắc phục hậu quả, mà là đưa nội dung bảo vệ môi trường vào toàn bộ quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ, cũng như vào các chương trình, dự án đầu tư cụ thể. Đồng thời, bảo vệ môi trường được đặt trong mối liên hệ hữu cơ với ứng phó với biến đổi khí hậu và quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên, qua đó phản ánh tư duy phát triển ngày càng toàn diện, dài hạn và bền vững của Đảng trong bối cảnh mới.
Trong Văn kiện Đại hội XII (năm 2016), Đảng đã tiếp tục phát triển tư duy về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đại hội xác định phương hướng quan trọng là “thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường”(10). Việc đặt yêu cầu bảo vệ môi trường song hành với thu hút đầu tư cho thấy Đảng đã nhận thức rõ rằng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới không thể dựa thuần túy vào mở rộng quy mô đầu tư, mà phải gắn với chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của phát triển. Đại hội tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên do chủ quan con người, nhất là do các dự án phát triển kinh tế gây ra. Bảo vệ môi trường tự nhiên vừa là nội dung, vừa là mục tiêu phát triển bền vững... Đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường tự nhiên với môi trường sống ở các khu công nghiệp, đô thị, dân cư”(11).
Điều này cho thấy Đảng đã nhìn nhận một cách thẳng thắn những tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là từ các dự án đầu tư nếu thiếu kiểm soát môi trường. Đồng thời, môi trường không còn được xem là yếu tố ngoại vi hay chi phí phát sinh của phát triển, mà được xác lập vị trí kép: vừa là một nội dung cấu thành của phát triển bền vững, vừa là mục tiêu cần hướng tới trong toàn bộ quá trình phát triển.
Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, khi định hướng phát triển giai đoạn 2021 - 2030, Đảng đã thể hiện bước phát triển rõ rệt trong tư duy về bảo vệ môi trường. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu “lấy bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”(12). Việc đặt “môi trường sống và sức khỏe nhân dân” ở vị trí mục tiêu hàng đầu cho thấy môi trường đã được nhìn nhận trực tiếp từ góc độ chất lượng sống và phúc lợi con người, chứ không chỉ như một điều kiện hay lĩnh vực hỗ trợ cho phát triển kinh tế. Đồng thời, định hướng xây dựng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn phản ánh sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và bảo vệ hệ sinh thái.
Bước tiến quan trọng, mang tính đột phá trong tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ môi trường được thể hiện tập trung và rõ nét trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV. Dự thảo xác định: “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”(13). Sự khẳng định này không chỉ là sự bổ sung một thành tố mới vào nội hàm của nhiệm vụ trung tâm, mà là sự tái cấu trúc căn bản tư duy phát triển, phản ánh bước phát triển về chất trong nhận thức lý luận của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng, tiến bộ xã hội và môi trường sinh thái.
Về phương diện lý luận, việc đưa bảo vệ môi trường lên vị thế trung tâm cho thấy Đảng đã phát triển sáng tạo lý luận phát triển bền vững hiện đại, dựa trên ba trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường, đồng thời gắn với chủ nghĩa nhân văn sinh thái, trong đó con người được đặt trong môi quan hệ hài hòa với tự nhiên. Trên nền tảng đó, quan điểm về nhà nước phát triển bền vững coi bảo vệ môi trường là một trụ cột cốt lõi của quản trị quốc gia hiện đại. Thêm nữa, bước đột phá tư duy này còn là sự đáp ứng tất yếu trước những yêu cầu cấp bách của bối cảnh phát triển mới. Thế giới đang đứng trước những thách thức môi trường toàn cầu chưa từng có, buộc các quốc gia phải xem xét lại mô hình tăng trưởng truyền thống. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đặt bảo vệ môi trường ở vị trí trung tâm không chỉ mang ý nghĩa định hướng lâu dài, mà còn là yêu cầu thực tiễn nhằm thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bao trùm và phát thải thấp; đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích ngắn hạn của tăng trưởng và lợi ích dài hạn của quốc gia - dân tộc, giữa nhu cầu phát triển hiện tại và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai.
2.2. Đột phá trong quan điểm của Đảng về “bảo vệ môi trường là trung tâm” từ góc nhìn lý luận
Thứ nhất, bảo vệ môi trường và ba trụ cột của phát triển bền vững
Phát triển bền vững là mô hình phát triển đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi và trở thành định hướng chiến lược của nhiều quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Về mặt lý luận, phát triển bền vững được cấu thành bởi ba trụ cột cơ bản, có mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời, bao gồm: phát triển kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội, và bảo vệ môi trường sinh thái(14). Trong mô hình ba trụ cột này, trụ cột môi trường giữ vai trò nền tảng, bởi môi trường tự nhiên không chỉ cung cấp tài nguyên cho phát triển kinh tế mà còn là không gian sinh tồn của con người và xã hội. Nếu môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, các thành tựu kinh tế khó có thể duy trì lâu dài, đồng thời những vấn đề xã hội như nghèo đói, bất bình đẳng, xung đột lợi ích và bất ổn xã hội sẽ gia tăng. Do đó, bảo vệ môi trường không chỉ là một lĩnh vực chính sách riêng biệt mà là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự vận hành ổn định và bền vững của cả hệ thống phát triển(15).
Từ góc độ lý luận phát triển, nhiều nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra rằng, việc đặt tăng trưởng kinh tế lên trên bảo vệ môi trường sẽ dẫn tới “bẫy phát triển không bền vững”, trong đó chi phí khắc phục ô nhiễm, suy thoái tài nguyên và biến đổi khí hậu trong tương lai lớn hơn rất nhiều so với lợi ích kinh tế ngắn hạn đạt được(16). Chính vì vậy, xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới là chuyển từ mô hình “tăng trưởng trước - xử lý môi trường sau” sang mô hình phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp, coi bảo vệ môi trường là động lưc nội sinh của tăng trưởng dài hạn.
Trong bối cảnh đó, việc Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh và xác định “bảo vệ môi trường là trung tâm” thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận về phát triển bền vững ở Việt Nam. Đây không chỉ là sự tiếp thu có chọn lọc các giá trị phổ quát của lý luận phát triển bền vững trên thế giới, mà còn là sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cách tiếp cận này phản ánh tư duy hệ thống, tư duy dài hạn và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong lãnh đạo phát triển đất nước, nhằm bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái vì lợi ích lâu dài của quốc gia - dân tộc.
Thứ hai, bảo vệ môi trường - điều kiện của phát triển chứ không phải hệ quả
Trong một thời gian dài, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, môi trường thường bị xem là “cái giá phải trả” cho tăng trưởng kinh tế. Theo cách tiếp cận này, ưu tiên hàng đầu là mở rộng sản xuất, gia tăng GDP và tích lũy vật chất, còn các vấn đề môi trường sẽ được xử lý sau khi nền kinh tế đạt tới một trình độ phát triển nhất định. Mô hình phát triển “tăng trưởng trước, xử lý sau” đã từng được nhiều quốc gia áp dụng và trong ngắn hạn có thể mang lại những kết quả kinh tế nhất định. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển trên thế giới cho thấy, cách tiếp cận này để lại những hệ lụy nghiêm trọng và lâu dài, từ ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên, suy giảm đa dạng sinh học cho tới những rủi ro về sức khỏe cộng đồng và bất ổn xã hội(17).
Chi phí khắc phục các hậu quả môi trường trong mô hình phát triển truyền thống ngày càng gia tăng, thậm chí vượt xa lợi ích kinh tế đạt được trước đó. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nếu không tính đầy đủ “chi phí môi trường” vào quá trình ra quyết định phát triển, tăng trưởng kinh tế sẽ trở nên méo mó và không bền vững(18). Chính vì vậy, trong những thập niên gần đây, tư duy phát triển mới đã dần được xác lập: bảo vệ môi trường không còn bị coi là hệ quả tất yếu của phát triển, mà trở thành điều kiện tiên quyết, là tiêu chí và thước đo chất lượng của tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Từ góc độ lý luận, sự chuyển biến này phản ánh bước tiến quan trọng trong nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và môi trường. Môi trường không chỉ là “đầu vào” cung cấp tài nguyên cho sản xuất, mà còn là nền tảng sinh thái bảo đảm sự tái tạo của các hệ thống tự nhiên và xã hội. Khi môi trường bị suy thoái, khả năng duy trì tăng trưởng dài hạn sẽ bị đe dọa, đồng thời làm gia tăng các rủi ro phát triển trong tương lai(19). Do đó, bảo vệ môi trường phải được tích hợp ngay từ khâu hoạch định chiến lược, chính sách và mô hình phát triển, chứ không thể tách rời hoặc đặt ở vị trí thứ yếu.
Cách tiếp cận coi bảo vệ môi trường là điều kiện của phát triển gắn liền với sự ra đời và phổ biến của các khái niệm mới như “kinh tế xanh”, “tăng trưởng xanh”, “kinh tế tuần hoàn” và “Net Zero”. Các khái niệm này đều hướng tới mục tiêu chung là tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng giảm thiểu khai thác tài nguyên nguyên sinh, hạn chế phát thải và thúc đẩy tái sử dụng, tái chế chất thải(20). Về mặt lý luận, đây là sự chuyển dịch từ tư duy phát triển “tuyến tính” sang tư duy “tuần hoàn”, từ mô hình “khai thác - sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ” sang mô hình “tái tạo - sử dụng hiệu quả - tái chế - tái sinh”.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng nghiêm trọng, việc coi bảo vệ môi trường là điều kiện tiên quyết của phát triển không chỉ mang ý nghĩa kinh tế - kỹ thuật, mà còn thể hiện trách nhiệm chính trị và đạo đức đối với các thế hệ tương lai. Đây chính là nền tảng lý luận quan trọng để Đảng ta khẳng định bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững đất nước, qua đó bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng, công bằng xã hội và ổn định sinh thái trong dài hạn.
2.3. Đột phá trong quan điểm của Đảng về “bảo vệ môi trường là trung tâm” trước yêu cầu của bối cảnh mới
Thứ nhất, thách thức toàn cầu và cam kết quốc tế
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới đang phải đối mặt với hàng loạt thách thức môi trường mang tính toàn cầu, có quy mô, mức độ và tính chất ngày càng nghiêm trọng. Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn dự báo đang đặt ra những giới hạn mới đối với mô hình phát triển truyền thống dựa trên khai thác tài nguyên và phát thải cao(21). Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, mà còn trực tiếp đe dọa an ninh lương thực, an ninh năng lượng, sức khỏe con người và ổn định xã hội của nhiều quốc gia.
Trong bức tranh chung đó, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những đồng bằng trên thế giới chịu rủi ro cao nhất trước hiện tượng nước biển dâng và xâm nhập mặn(22). Khu vực ven biển miền Trung thường xuyên phải đối mặt với bão lũ, hạn hán và sạt lở, gây tổn thất lớn về kinh tế - xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận phát triển, trong đó bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu không còn là lựa chọn, mà trở thành điều kiện sống còn đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Trên bình diện quốc tế, Việt Nam đã thể hiện rõ trách nhiệm của một quốc gia thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế thông qua việc tham gia và thực hiện nhiều cam kết quan trọng về môi trường và phát triển bền vững. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) năm 2021, Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050(23). Đây là cam kết chính trị mạnh mẽ, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng phát thải thấp, tăng trưởng xanh và bền vững.
Trong bối cảnh đó, việc Đảng ta bổ sung và xác lập “bảo vệ môi trường là trung tâm” không chỉ xuất phát từ yêu cầu nội tại của quá trình phát triển đất nước, mà còn là sự đáp ứng kịp thời trước những thách thức toàn cầu và cam kết quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam. Đây chính là nền tảng thực tiễn quan trọng để tư duy lý luận của Đảng về phát triển bền vững tiếp tục được hoàn thiện, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và yêu cầu hội nhâp quốc tế sâu rộng.
Thứ hai, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Việc bổ sung và xác lập “bảo vệ môi trường là trung tâm” trong chiến lược phát triển đất nước đồng nghĩa với việc Việt Nam lựa chọn con đường chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bao trùm và bền vững. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về mục tiêu, mà là sự thay đổi căn bản về phương thức phát triển, trong đó các yếu tố môi trường, sinh thái được tích hợp ngay từ đầu vào quá trình hoạch định và triển khai chính sách kinh tế - xã hội. Quan điểm này phù hợp với định hướng của Đảng về chú trọng bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững, đồng thời phản ánh yêu cầu cấp thiết của thực tiễn phát triển trong giai đoạn mới.
Trước hết, chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh đòi hỏi phải thúc đẩy mạnh mẽ việc sử dụng năng lượng tái tạo, từng bước giảm phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng, việc phát triển điện gió, điện mặt trời và các dạng năng lượng sạch khác không chỉ góp phần giảm phát thải khí nhà kính, mà còn nâng cao tính tự chủ, an ninh năng lượng quốc gia. Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã “khuyến khích đầu tư và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm phát thải, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tăng năng suất lao động và đổi mới mô hình tăng trưởng”(24). Như vậy, trong bối cảnh mới, bảo vệ môi trường không chỉ là mục tiêu xã hội hay yêu cầu đạo đức, mà đã trở thành một nguồn lực phát triển kinh tế mới. Thông qua chuyển đổi năng lượng, ứng dụng công nghệ sạch và tham gia thị trường carbon toàn cầu, Việt Nam có cơ hội hình thành các động lực tăng trưởng mới, nâng cao chất lượng phát triển và bảo đảm sự phát triển bền vững, lâu dài của đất nước.
Thứ ba, hài hòa giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn
Việc đưa bảo vệ môi trường lên vị thế trung tâm trong chiến lược phát triển thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong việc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Từ góc độ lý luận phát triển, vấn đề cốt lõi đặt ra là phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích ngắn hạn của thế hệ hiện tại và lợi ích dài hạn của các thế hệ tương lai. Phát triển bền vững đòi hỏi không chỉ tối đa hóa lợi ích kinh tế trước mắt, mà còn phải bảo đảm khả năng tái tạo của tài nguyên thiên nhiên, duy trì chất lượng môi trường sống và bảo vệ các hệ sinh thái thiết yếu cho sự tồn tại lâu dài của xã hội loài người. Quan điểm này phù hợp với định nghĩa kinh điển về phát triển bền vững của Liên hợp quốc(25).
Việc xác lập bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ trung tâm cũng góp phần điều chỉnh cách tiếp cận trong hoạch định chính sách phát triển. Thay vì ưu tiên các dự án mang lại lợi ích kinh tế ngắn hạn nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái tài nguyên, Nhà nước cần tăng cường sàng lọc, lựa chọn các mô hình phát triển có giá trị gia tăng cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thân thiện với môi trường. Đây là biểu hiện cụ thể của việc hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ sinh thái.
Ở tầm nhìn dài hạn, việc đặt môi trường ở vị trí trung tâm còn thể hiện trách nhiệm chính trị của Đảng ta đối với các thế hệ tương lai. Phát triển không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm nay, mà còn phải bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của con cháu mai sau. Tinh thần này của của Đảng hướng tới xây dựng một xã hội phát triển bền vững, nhân văn và tiến bộ.
Như vậy, việc hài hòa giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn thông qua việc xác lập “bảo vệ môi trường là trung tâm” không chỉ là sự lựa chọn chính sách, mà là sự khẳng định rõ ràng về định hướng giá trị và mô hình phát triển mà Đảng và Nhà nước ta kiên định theo đuổi. Đây chính là nền tảng quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững, ổn định và lâu dài của đất nước trong bối cảnh mới.
3. Kết luận
Việc bổ sung và chính thức xác lập “bảo vệ môi trường” cùng với phát triển kinh tế, xã hội là trung tâm trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước phát triển lý luận có ý nghĩa lịch sử. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về thứ tự ưu tiên chính sách, mà là sự đổi mới căn bản trong tư duy phát triển, phản ánh quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc và toàn diện của Đảng về mối quan hệ giữa con người - tự nhiên - xã hội trong bối cảnh mới. Tư duy này là kết tinh của thực tiễn đổi mới gần bốn thập niên, đồng thời thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trước những thách thức toàn cầu ngày càng gay gắt về môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Có thể khẳng định rằng, đặt bảo vệ môi trường ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đồng nghĩa với việc Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn con đường phát triển hài hòa, nhân văn và bền vững. Đây là con đường bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ sinh thái, giữa mục tiêu quốc gia với lợi ích chung của nhân loại. Chính định hướng này tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam vững bước trong thế kỷ XXI: phát triển nhanh nhưng không đánh đổi tương lai; hiện đại hóa nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa và hệ sinh thái; giàu có về vật chất song song với sự trong lành về tinh thần và môi trường sống.
_________________
Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng
Ngày nhận bài: 16-12-2025;
Ngày bình duyệt: 26-12-2025;
Ngày duyệt đăng: 05-01-2026.
Email tác giả: xhhanh@gmail.com
(1) ĐCSVN: “Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm 1986 - 1990”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện - tư liệu Đảng, https://tulieuvankien. dangcongsan.vn.
(2) ĐCSVN: “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện - tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
(3) ĐCSVN: “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện - tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
(4) Bộ Chính trị: “Chỉ thị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Thư viện pháp luật, https://thuvienphapluat.vn.
(5) ĐCSVN: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện - tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
(6) Bộ Chính trị: “Nghị quyết số 41 - NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15-11-2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Thư viện pháp luật, https://thuvienphapluat.vn.
(7) ĐCSVN: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện - tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
(8) Ban Chấp hành Trung ương: “Nghị quyết về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”, Thư viện pháp luật, https://thuvienphapluat.vn.
(9) Ban Chấp hành Trung ương: “Nghị quyết về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”, Thư viện pháp luật, https://thuvienphapluat.vn.
(10) ĐCSVN: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện - tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
(11) ĐCSVN: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện - tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
(12) ĐCSVN: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam: Hệ thống văn kiện - tư liệu Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
(13) Ban Chấp hành Trung ương: “Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.org.vn.
(14) Vaillancourt, Jean-Guy: “Sustainable Development: A Sociologist’s View of Definition, Origins and Implications of the Concept.” Pp. 219-30 in Environmental sociology: theory and practice, edited by Michael D. Mehta and Eric Ouellet. North York: Captus Press Inc.
(15) United Nations: “United Nations Conference on Environment & Development.” Rio de Janerio, Brazil, 3 to 14 June 1992, https://sustainabledevelopment.un.org/content/documents/Agenda21.pdf, truy cập ngày 15- 12-2025.
(16) Sachs, Jeffrey D: The Age of Sustainable Development, New York: Columbia, University Press, 2015.
(17) Meadows, Donella , Jorgen Randers, and Dennis Meadows: Limits to Growth: The 30-Year Update, White River Junction, Vermont: Chelsea Green Publishing, 2004.
(18) OECD. 2011: “Towards Green Growth” OECD Green Growth Studies, OECD Publishing, Paris, https://www.oecd.org/en/publications/2011/05/towards-green-growth_g1g1342a.html.
(19) Sachs, Jeffrey D: The Age of Sustainable Development, New York: Columbia, University Press, 2015.
(20) Alvarez-Risco, Aldo , Marc A. Rosen, and Shyla Del-Aguila-Arcentales: Towards a Circular Economy: Transdisciplinary Approach for Business: Springer International Publishing, 2022.
(21) IPCC: “Summary for Policymakers. In: Climate Change 2023: Synthesis Report “ Contribution of Working Groups I, II and III to the Sixth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change [Core Writing Team, H. Lee and J. Romero (eds.)], 2023. IPCC, Geneva, Switzerland, pp. 1-34, doi: 10.59327/IPCC/AR6-9789291691647.00.
(22) Toan To Quang: “9 - Climate Change and Sea Level Rise in the Mekong Delta: Flood, Tidal Inundation, Salinity Intrusion, and Irrigation Adaptation Methods”, pp. 199-218 in Coastal Disasters and Climate Change in Vietnam, edited by Nguyen Danh Thao, Hiroshi Takagi, and Miguel Esteban. Oxford: Elsevier.
(23) H.Phương: “Quốc tế ấn tượng với cam kết đạt phát thải ròng bằng ‘0’ của Việt Nam”, Cổng thông tin điện tử Chính phủ https://thutuong.chinhphu.vn.
(24) Ban Chấp hành Trung ương: “Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Báo điện tử Chính phủ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.
(25) World Commission on Environment and Development: Our Common Future. Oxford: Oxford University Press, 1987.