Tóm tắt: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 19/12/1946 của Hồ Chí Minh là lời hịch vang dậy núi sông, kêu gọi đồng bào, anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân đứng lên kiên quyết chiến đấu để giữ gìn, bảo vệ đất nước. “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” thể hiện rõ khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam, quyết tâm chiến đấu vì độc lập và thống nhất Tổ quốc; nêu cao tinh thần đoàn kết, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, tất cả đồng lòng, đồng tâm, đồng sức đứng lên đánh bại quân xâm lược với niềm tin thắng lợi nhất định về dân tộc ta. Bài viết phân tích, luận giải tinh thần đó trong bối cảnh hiện nay, qua đó khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

PGS, TS BÙI ĐÌNH PHONG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
ThS PHẠM THU PHƯƠNG
Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu
1. Mở đầu
Đã có nhiều nghiên cứu về văn kiện lịch sử vô giá “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Một số công trình tập trung phân tích bối cảnh ra đời của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công, thực dân Pháp từng bước đẩy mạnh các hoạt động quân sự và xâm lược nước ta; một số nghiên cứu khác đi sâu làm rõ nội dung của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” trên các phương diện chính trị, quân sự, văn hóa và ý nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Bài viết này tiếp cận ở một chiều cạnh khác. Từ những điểm mấu chốt trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” như khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước; nêu cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết chiến đấu hy sinh để giữ vững nền độc lập, niềm tin nhất định thắng lợi…, bài viết phân tích làm rõ tinh thần đó là “gạch nối” giữa quá khứ với kỷ nguyên mới; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có ý nghĩa và giá trị to lớn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước
Quyết tâm chiến đấu đến cùng, không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ là biểu tượng tập trung của tinh thần yêu nước, chiến đấu bất khuất trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Từ lời thề của Trưng Trắc năm 40 đến thế kỷ XIII với Hịch tướng sĩ - Hịch “Sát Thát” nặng nghĩa lớn cứu nước, cứu nhà, sẵn sàng hy sinh vì đất nước là những minh chứng hùng hồn.
Trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược trước khi có Đảng, tinh thần đấu tranh giành độc lập dân tộc vẫn được tiếp nối mạnh mẽ, mặc dù giai cấp phong kiến Việt Nam do triều Nguyễn nắm quyền từng bước đầu hàng dâng nước ta cho Pháp. Tinh thần chống Pháp của Nguyễn Trung Trực thể hiện rõ ý chí bất khuất trước quân xâm lược. Trong khởi nghĩa Giáp Tuất 1874 ở Nghệ Tĩnh do Trần Tấn và Đặng Như Mai lãnh đạo xuất hiện khẩu hiệu “Bình Tây sát Tả” và lời hịch cứu nước: “Dập dìu trống đánh cờ siêu. Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây” (Nguyễn Quang Ngọc, 2000, tr.219). Từ phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX (1885 - 1896) đến các phong trào đầu thế kỷ XX của công nhân, nông dân, giai cấp tư sản và tiểu tư sản - dù có hình thức đấu tranh khác nhau, từ vũ trang bạo động của Phan Bội Châu, cải cách của Phan Châu Trinh hay dựa vào rừng núi như Hoàng Hoa Thám - đều thể hiện tinh thần không khuất phục và những nỗ lực tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, chống lại ách thống trị của thực dân Pháp.
Trong quá trình chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng và trang bị lý luận cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã nhắc đến tình thần quật khởi không chịu làm nô lệ của nhân dân ta. Trong tác phẩm Đường cách mệnh năm 1927 Người chỉ rõ thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, dân ta bị áp bức không chịu nổi và hiểu rằng “thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.286). Tư tưởng đề cao quyền sống, quyền tự do của con người và quyền độc lập của các dân tộc được thể hiện rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Lời khẳng định “thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ” của Người vừa thể hiện ý chí, quyết tâm đấu tranh chống áp bức, vừa thể hiện khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.
Từ năm 1930 đến năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã anh dũng chiến đấu hy sinh chống thực dân Pháp, phát xít Nhật. Sau Tổng khởi nghĩa thắng lợi vào mùa Thu năm 1945, Việt Nam đã thật sự thành một nước tự do và độc lập, hoàn toàn có quyền hưởng tự do và độc lập. Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập vừa giành được trở thành yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam. Khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh có nhiều hoạt động đối nội và đối ngoại nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tìm kiếm khả năng duy trì hòa bình. Trong những hoạt động đó, nổi lên chuyến thăm và làm việc tại Pháp năm 1946, trong đó Người tham gia các cuộc đàm phán và ký Tạm ước ngày 14/9/1946. Để đạt mục đích bảo vệ lợi quyền của Tổ quốc và nhân dân, những hoạt động trên đất Pháp cho thấy sự kiên định về nguyên tắc, đồng thời mềm dẻo về sách lược của Hồ Chí Minh trong xử lý quan hệ với Pháp.
Sau khi Hồ Chí Minh đi Pháp về, tình hình ngày càng căng thẳng. Trong các hoạt động đối nội, đối ngoại, Người luôn thể hiện cho nhân dân thế giới, nhân dân Pháp thấy rõ thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam, khẳng định tự do là quyền thiêng liêng của mỗi người và ai cũng muốn sống tự do. Nhưng trong khi Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng bằng thương lượng, thì các hoạt động quân sự của thực dân Pháp tiếp tục gia tăng tại nhiều địa bàn. Những vụ việc ở miền Nam, Hải Phòng, Lạng Sơn cho thấy rõ dã tâm của những người đại diện Pháp ở Đông Dương. Thái độ của Hồ Chí Minh do đó ngày càng rõ ràng hơn, vừa kiên trì chủ trương hòa bình với Pháp, vừa thể hiện quyết tâm sẵn sàng hy sinh để giữ vững chủ quyền của Tổ quốc.
Lời kêu gọi Liên hợp quốc năm 1946, trước khi Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” là thông điệp có ý nghĩa quốc tế sâu sắc của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân thế giới về thiện chí mong muốn hòa bình, chính sách đối ngoại, chính sách mở cửa và hợp tác với nước Pháp cũng như quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước.
“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” thể hiện bản lĩnh văn hóa chính trị ở tầm cao trí tuệ của Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh của ý chí bảo vệ độc lập, tự do và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam trong một thời điểm lịch sử đặc biệt. “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” thấm sâu vào lòng dân tộc, hòa với non sông đất nước, thôi thúc cả nước đứng lên “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”; “Tổ quốc trên hết! Dân tộc trên hết!”. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), khi khẳng định chúng ta phải tiếp tục chiến đấu đến cùng, Hồ Chí Minh nhắc lại châm ngôn của người Pháp, cũng là châm ngôn của chúng ta: “Thà chết không làm nô lệ” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.155). Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định độc lập, tự do là giá trị thiêng liêng, là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam sẵn sàng hy sinh, chịu đựng gian khổ để bảo vệ. Đó là một khẩu hiệu, một lời hịch chứa đựng tư tưởng lớn, ý chí lớn, quyết tâm và khát vọng lớn của toàn dân tộc.
Ngày nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển của dân tộc, tinh thần “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” chuyển sang một trạng thái mới, nhận thức mới, cách tổ chức thực hiện và giải pháp mới. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời gắn với yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân, củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh, bền vững, cần đồng thời tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh và tập trung phát triển khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI), đổi mới sáng tạo, hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Bên cạnh đó, phải giữ vững cốt cách người Việt, bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vì văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất. Phải xây dựng hệ thống phòng thủ từ sớm, từ xa, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và dữ liệu quốc gia trên không gian mạng. Trong thực hiện hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác vì vẫn còn “các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong” (ĐCSVN, 2026, tr.113), những thách thức về khủng bố, tội phạm, an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Một trong những điều có ý nghĩa quyết định để giữ vững tinh thần “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” trong kỷ nguyên mới là tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự tin, tự hào với truyền thống đánh giặc giữ nước vẻ vang “bách chiến bách thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong tự chủ chiến lược thì hàng đầu và xuyên suốt là đường lối chiến lược của Đảng. Đó là đường lối được hoạch định xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Sinh khí của dân tộc và hơi thở của thời đại phải luôn luôn là dòng chảy, mạch nguồn trong tư duy của Đảng. Để tổ chức thực hiện hiệu quả đường lối đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực thực tiễn; có tinh thần dám nghĩ, dám đề xuất ý kiến, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám hành động vì lợi ích chung.
Gắn với xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực quản trị, điều hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi các nguy cơ và nâng cao năng lực tự chủ, trong đó có tự chủ về công nghệ, phụ thuộc rất lớn vào việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Trong đó, quan điểm lấy dân làm gốc cần tiếp tục được quán triệt trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh, trí tuệ, quyền làm chủ và sự đồng thuận của nhân dân là nguồn lực quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần “ai cũng phải ra sức, ai cũng phải hành động, ai cũng phải quyết tâm” như lời Hồ Chí Minh trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” cho thấy vai trò chủ thể của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, có thể thấy giá trị của tư tưởng phát huy sức mạnh nhân dân và khát vọng hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất của dân tộc vẫn có ý nghĩa trong điều kiện phát triển mới của đất nước..
Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Hồ Chí Minh mở đầu bằng “chúng ta muốn hòa bình” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.534), đó là tư tưởng nhất quán của Người về hòa bình, độc lập dân tộc và hợp tác quốc tế. Người được Tổ chức UNESCO tôn vinh và khẳng định đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong kỷ nguyên mới, Đảng ta đặt mục tiêu hòa bình lên trước hết. Điều đó khẳng định hòa bình là khát vọng ngàn đời của con người, của các dân tộc, là một trong những xu thế lớn của loài người trong thời đại ngày nay.
2.2. Đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên quyết kháng chiến với niềm tin nhất định thắng lợi
Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào toàn quốc “chúng ta phải đứng lên”. Người dùng từ “ai” - “ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm; ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước” - qua đó thể hiện tư tưởng huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào sự nghiệp kháng chiến, không phân biệt thành phần, lứa tuổi, giới tính hay điều kiện tham gia.
Cũng như khát vọng tự do, độc lập, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta thể hiện rõ nét trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nổi bật là thế kỷ XIII với Hội nghị Diên Hồng và tinh thần đoàn kết của nhà Trần “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” (Nguyễn Quang Ngọc, 2000, tr.94). Trong Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi nhấn mạnh “tụ tập bốn phương dân chúng” để quy tụ sức dân, phát huy sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp chống ngoại xâm.
Từ khi ra đời, Đảng ta kế thừa, phát triển và nâng cao truyền thống đoàn kết của dân tộc thành đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết toàn dân tộc được tổ chức, thực hiện trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đảng ta và Hồ Chí Minh xác định nước ta là một nước thuộc địa và nửa phong kiến, làm cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Vì vậy, đoàn kết phải được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dựa trên nền tảng liên minh công nông, xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, vì lợi ích của quốc gia và dân tộc tập hợp tất cả mọi con dân Việt Nam, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, chĩa mũi nhọn vào bọn cướp nước và bọn bán nước. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) là một bước phát triển quan trọng trong việc tổ chức và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Bài học lịch sử cho thấy, sự đồng lòng, đồng sức và thống nhất ý chí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân.
Truyền thống đoàn kết của Đảng và dân ta được Hồ Chí Minh phát huy cao độ trong quá trình chuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Việc tổ chức cuộc Tổng tuyển cử theo đề nghị của Hồ Chí Minh là sự nhạy bén về chính trị, thể hiện tư duy sáng suốt về coi trọng sức mạnh của dân chủ và đoàn kết. Tất cả mọi hoạt động đối nội, đối ngoại của Hồ Chí Minh đều nhằm mục đích giữ vững nền độc lập và thống nhất của Tổ quốc. Người tập trung vào củng cố, tăng cường, phát huy sức mạnh đoàn kết, vì đoàn kết thì thắng lợi, không đoàn kết thì khó khăn, thậm chí thất bại. Trên cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã có những chủ trương, bước đi khôn khéo, đề nghị đổi Chính phủ lâm thời thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, rồi Chính phủ liên hiệp chính thức (Chính phủ kháng chiến) được Quốc hội nhất trí. Đó là một biểu hiện của tầm nhìn, trí tuệ, bản lĩnh về sức mạnh đoàn kết. Việc thành lập Chính phủ kháng chiến rồi Chính phủ mới (tháng 11/1946) là nhằm vun bồi sinh khí, sinh lực toàn dân đoàn kết, quy tụ nhân tài, kiên quyết kháng chiến vì độc lập, thống nhất lãnh thổ, xây dựng nước Việt Nam mới.
Với Hồ Chí Minh, đoàn kết không chỉ trong Chính phủ mà phải đại đoàn kết toàn dân tộc; toàn dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối vững chắc để giữ gìn non sông gấm vóc. Khối đoàn kết đó lấy lòng ái quốc làm hạt nhân, bao gồm con Lạc cháu Hồng, đồng bào Kinh, dân tộc thiểu số, người trong một nước, miền ngược miền xuôi, nông thôn, thành thị, già, trẻ, gái trai… tất cả phải “đoàn kết chặt chẽ, tránh mọi sự chia rẽ” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.273).
Ngày nay, khi dân tộc bước vào kỷ nguyên mới trong một thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, vấn đề đoàn kết càng phải được quan tâm, chú trọng hơn bao giờ hết. Tinh thần, giá trị của sức mạnh đoàn kết trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” tám mươi năm trước vẫn có ý nghĩa về phương diện phát huy sức mạnh dân tộc, nhưng nội hàm, các yếu tố cấu thành và cách tổ chức để tạo nên sức mạnh đoàn kết thật sự cần có những nhận thức mới cho phù hợp với thực tế.
Sau 40 năm đổi mới, tại Đại hội XIV, Đảng ta khẳng định bài học đoàn kết “lấy dân làm gốc” được ghi trong các văn kiện của Đảng từ năm 1930 đến bốn thập kỷ đổi mới. So với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh năm 1946 và các văn kiện của Đảng trước Đại hội XIV, tư duy của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới nêu trong Văn kiện Đại hội XIV thể hiện sự kế thừa, phát triển và được trình bày rõ ràng, cụ thể hơn. Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Hồ Chí Minh nói “ai cũng phải ra sức” và đồng bào phải đứng lên là nói tới vai trò chủ thể của nhân dân. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân cho phù hợp tình hình mới. Đặc biệt, nếu các văn kiện trước Đại hội XIV mới dừng lại ở “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” thì điểm mới của Văn kiện Đại hội XIV là nhấn mạnh hai mặt “sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (ĐCSVN, 2026, tr.120) tạo thành động lực, nguồn lực to lớn, bền vững. Nhận thức này của Đảng ở Đại hội XIV thể hiện sự kế thừa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy đại đoàn kết toàn dân tộc mới chỉ là một mặt quan trọng tạo nên sức mạnh. Còn sức mạnh toàn diện của nhân dân như nhiều lần Người chỉ ra, còn là lòng tốt của nhân dân, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tin, tự chủ, tự hào dân tộc, khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc. Sức mạnh đó còn ở lực lượng đông đảo, sức dân hàng triệu lỗ tai, con mắt chăng thành bức “thiên la địa võng”, trí thông minh, năng lực sáng tạo, ý nguyện của dân, quyền dân, v.v.. Từ khi có Đảng, nhân dân ta tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn luôn đi theo Đảng, bảo vệ Đảng. Đó là cách nhìn một mảng lớn về nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm, giá trị tinh thần rất thực tiễn, khoa học, cách mạng và nhân văn của Hồ Chí Minh được Đảng ta kế thừa, phát huy trong giai đoạn mới.
Đại hội XIV nhấn mạnh sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là những nguồn lực quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để vượt qua khó khăn, thách thức trên con đường xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự tiếp nối và phát triển những giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân và đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện phát triển mới của đất nước.
3. Kết luận
Một trong những yêu cầu của việc nghiên cứu di sản Hồ Chi Minh nói chung, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946 nói riêng là phải làm cho người đọc nhận rõ giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Một luận điểm, một mệnh đề, câu, chữ trong di sản của Người không chỉ có ý nghĩa và giá trị lịch sử, thôi thúc, động viên, kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân làm tròn nhiệm vụ cách mạng, mà còn chứa đựng những giá trị to lớn tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Trong kỷ nguyên mới, tư tưởng của Người thể hiện trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vẫn nguyên giá trị, là kim chỉ nam cho công cuộc đổi mới. Sự soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ trên câu chữ mà quan trọng nhất là tinh thần, lập trường, quan điểm và hành động gương mẫu của Người. Bài viết đã làm rõ quan điểm này trên hai phương diện chủ yếu, đó là khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất đất nước và đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên quyết kháng chiến với niềm tin nhất định thắng lợi. Dưới ánh sáng tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực phấn đấu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, phát triển nhanh và bền vững đất nước vì độc lập, dân chủ, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
_________________
Ngày nhận: 06/9/2026; Ngày bình duyệt: 08/10/2026; Ngày quyết định đăng: 31/10/2026
Email tác giả: buidinhphong@gmail.com
Tài liệu tham khảo
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Nguyễn Quang Ngọc (2000). Tiến trình lịch sử Việt Nam. Nxb Giáo dục.