
(LLCT) - Trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang có những biến đổi sâu sắc, nhu cầu phát triển và lan tỏa tri thức xã hội học ngày càng trở nên quan trọng đối với nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn. Với vai trò là một thiết chế truyền thông khoa học, Tạp chí Lý luận chính trị không chỉ công bố mà còn góp phần thẩm định, kết nối và phát triển tri thức xã hội học. Qua các dòng nghiên cứu về cấu trúc xã hội, dân số, gia đình, lao động, phát triển xã hội và những không gian xã hội mới, Tạp chí từng bước hình thành một dòng chảy tri thức gắn kết nghiên cứu với giảng dạy và thực tiễn. Bài viết phân tích vai trò đó và đề xuất một số định hướng nâng cao giá trị tri thức xã hội học của Tạp chí trong giai đoạn mới.
TS NGUYỄN THỊ LAN
Tạp chí Lý luận chính trị,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề
Xã hội Việt Nam đang trải qua những biến đổi sâu sắc và đa chiều dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu lao động, biến động và già hóa dân số, biến đổi cấu trúc gia đình, sự đa dạng hóa các nhóm xã hội và tiến trình chuyển đổi số. Những chuyển biến đó không chỉ làm xuất hiện các vấn đề xã hội mới, mà còn đặt ra yêu cầu nhận thức và lý giải lại những vấn đề truyền thống. Vì vậy, nhu cầu về tri thức xã hội học dựa trên nền tảng khái niệm, lý thuyết, phương pháp luận và bằng chứng thực nghiệm ngày càng có ý nghĩa đối với nghiên cứu, giảng dạy và hoạch định chính sách.
Trong tiến trình đó, tạp chí khoa học, với tư cách là một thiết chế truyền thông khoa học, không chỉ thực hiện chức năng công bố mà còn tham gia vào chu trình của tri thức: từ lựa chọn vấn đề, phản biện, thẩm định, chuẩn hóa và công bố đến lưu chuyển, tiếp nhận và tiếp tục phát triển tri thức trong cộng đồng học thuật. Đối với xã hội học, vai trò này càng quan trọng bởi đối tượng nghiên cứu luôn vận động cùng thực tiễn xã hội, đòi hỏi các vấn đề như phân tầng xã hội, bất bình đẳng, gia đình, dân số, lao động, quản lý phát triển xã hội và biến đổi xã hội trong môi trường số phải được liên tục nghiên cứu, kiểm chứng và diễn giải.
Từ góc nhìn đó, bài viết phân tích vai trò của Tạp chí Lý luận chính trị trong sản xuất và truyền thông tri thức xã hội học, tập trung vào ba mối quan hệ: nghiên cứu - công bố; công bố - giảng dạy; tri thức - thực tiễn xã hội; qua đó đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao giá trị và vị thế của tri thức xã hội học trên Tạp chí trong giai đoạn mới.
2. Nội dung
2.1 Tạp chí Lý luận chính trị trong quá trình sản xuất và truyền thông tri thức xã hội học
Tri thức xã hội học cần được phân biệt với những thông tin, dữ liệu đơn lẻ về đời sống xã hội. Một số liệu về dân số, thu nhập, việc làm, gia đình hay hành vi xã hội chỉ trở thành tri thức xã hội học khi được đặt trong vấn đề nghiên cứu, khái niệm hóa, lý giải bằng lý thuyết, khảo sát bằng phương pháp phù hợp và kiểm chứng qua bằng chứng thực nghiệm. Vì vậy, một công trình xã hội học thường tích hợp nhiều lớp tri thức: khái niệm, lý thuyết, phương pháp và thực nghiệm, qua đó không chỉ mô tả hiện tượng mà còn nhận diện xu hướng, giải thích quan hệ và làm rõ cơ chế vận động của đời sống xã hội.
Từ đó, công bố khoa học cần được nhìn nhận như một mắt khâu trong chu trình tri thức, chứ không phải điểm kết thúc của nghiên cứu. Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự phát huy giá trị khi được công bố, tiếp nhận, thẩm định, trích dẫn, tranh luận và tiếp tục sử dụng trong những nghiên cứu, hoạt động đào tạo và thực tiễn mới. Đặc biệt đối với xã hội học, quá trình này có ý nghĩa quan trọng bởi tri thức về xã hội luôn cần được đối thoại và kiểm chứng trước những biến đổi của thực tiễn.
Trong chu trình đó, Tạp chí Lý luận chính trị giữ vai trò như một thiết chế trung gian và hạ tầng truyền thông tri thức, trực tiếp tham gia lựa chọn vấn đề, tổ chức phản biện, chuẩn hóa và cấu trúc hóa kết quả nghiên cứu thành những sản phẩm có khả năng lưu chuyển trong cộng đồng khoa học. Giá trị của Tạp chí vì thế không chỉ được đo bằng số lượng công trình công bố, mà quan trọng hơn ở những dòng tri thức được kiến tạo, kết nối và lan tỏa.
Vị thế học thuật của Tạp chí Lý luận chính trị còn được khẳng định qua việc các bài báo đăng tải được Hội đồng Giáo sư Nhà nước tính điểm trong nhóm liên ngành: Triết học - Chính trị học - Xã hội học, với khung điểm tối đa 1,0 điểm. Đây là một chỉ báo quan trọng cho thấy các công bố trên Tạp chí được ghi nhận trong hệ thống đánh giá học thuật chính thức, đồng thời phản ánh giá trị của Tạp chí trong việc công bố, tích lũy và lan tỏa các kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực xã hội học. Đối với tác giả, sự ghi nhận này không chỉ có ý nghĩa về mặt đánh giá thành tích khoa học, mà còn góp phần nâng cao giá trị học thuật và khả năng lưu chuyển của các công trình trong cộng đồng nghiên cứu. Qua đó, Tạp chí Lý luận chính trị khẳng định vai trò của một hạ tầng truyền thông tri thức có uy tín, góp phần chuyển hóa kết quả nghiên cứu cá nhân thành nguồn tri thức được công nhận, chia sẻ và tiếp tục phát triển trong đời sống khoa học.
2.2 Dòng tri thức xã hội học trên Tạp chí Lý luận chính trị
Nếu coi công bố khoa học là một quá trình sản xuất và lưu chuyển tri thức, thì các bài viết thuộc lĩnh vực xã hội học trên Tạp chí cần được nhìn nhận như những dòng tri thức sinh động, phản ánh các vấn đề then chốt và xu hướng vận động chính của xã hội Việt Nam.
Thứ nhất, tri thức về cấu trúc xã hội, phân tầng, bất bình đẳng và biến đổi xã hội
Một trong những dòng tri thức mang tính nền tảng nhất của khoa học Xã hội học là các nghiên cứu về cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội và bất bình đẳng. Đây là lĩnh vực thể hiện rất rõ đặc trưng tư duy xã hội học: đi từ việc mô tả sự khác biệt giữa các nhóm xã hội đến việc nhận diện sâu sắc các cơ chế tạo ra và tái sản xuất những khác biệt đó. Thời gian qua Tạp chí Lý luận chính trị đã đăng nhiều bài viết, góp phần lưu chuyển dòng tri thức trên trong đời sống lý luận và học thuật chuyên ngành Xã hội học.
Tiêu biểu có các nghiên cứu của GS, TS Trịnh Duy Luân, TS Đỗ Văn Quân với các bài viết, như: “Phân tầng xã hội và bất bình đẳng về kinh tế ở Việt Nam - Các yếu tố tác động”, (Tạp chí Lý luận chính trị số 560 (10-2024)); “Vai trò của tầng lớp trung lưu trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở Việt Nam hiện nay”, (Tạp chí Lý luận chính trị số 538 (12-2022)); “Xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, (Tạp chí Lý luận chính trị số 533 (7-2022))…
Trong các công trình về phân tầng xã hội và bất bình đẳng kinh tế ở Việt Nam, các tác giả đã vận dụng bài bản các chỉ báo như thu nhập, chi tiêu, tài sản, hệ số Gini, tỷ lệ chênh lệch N5/N1, cùng phân tích sự phân hóa giữa các vùng miền, thành thị - nông thôn và các nhóm xã hội để nhận diện bức tranh cấu trúc bất bình đẳng. Qua đó cho thấy “bất bình đẳng” không chỉ là chênh lệch về thu nhập/nắm giữ của cải,vật chất của các nhóm xã hội, mà được đặt trong tổng thể cấu trúc xã hội và trong toàn bộ tiến trình biến đổi xã hội. Từ mạch nghiên cứu phân tầng và bất bình đẳng, hướng tiếp cận tiếp tục được mở rộng sang phân tích về tầng lớp trung lưu, điển hình như các nghiên cứu của GS, TS Trịnh Duy Luân về vai trò của tầng lớp trung lưu trong phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội ở Việt Nam. Nghiên cứu của TS Đỗ Văn Quân trong bài “Xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, đã đặt vấn đề cấu trúc xã hội trong mối tương quan chặt chẽ với các mục tiêu phát triển đất nước.
Như vậy, một dòng tri thức học thuật đã từng bước được định hình theo logic: Cấu trúc xã hội -> Phân tầng xã hội -> Bất bình đẳng - > Tầng lớp trung lưu -> Đô thị hóa -> Biến đổi cấu trúc xã hội. Giá trị của dòng tri thức này đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy xã hội học chính là khả năng kết nối nhuần nhuyễn giữa Khái niệm - Lý thuyết - Dữ liệu - Phân tích xã hội. Người đọc không chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính rằng xã hội Việt Nam “có bất bình đẳng”, mà có thể tiếp cận được cách thức mà xã hội học đo lường, giải thích và phân tích bản chất của sự bất bình đẳng đó.
Thứ hai, tri thức về dân số, gia đình, nhóm xã hội và biến đổi xã hội
Dưới lăng kính xã hội học, gia đình không phải là một thiết chế bất biến mà luôn chịu tác động mạnh mẽ từ những chuyển biến kinh tế, dân số và văn hóa. GS, TS Nguyễn Hữu Minh, trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình và vận dụng trong xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay” (Tạp chí Lý luận chính trị số 563 (1-2025)), đã đặt gia đình trong mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển kinh tế - xã hội và khẳng định vị thế của gia đình như một tế bào cơ bản của xã hội. Từ góc nhìn đó, những biến đổi về quy mô hộ gia đình, quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình, vai trò giới, làn sóng di cư hay các lựa chọn hôn nhân đều có thể được xem xét như những biểu hiện sinh động của quá trình biến đổi xã hội rộng lớn hơn.
Các công trình về già hóa dân số của TS Đỗ Văn Quân, tiêu biểu là bài “Giải pháp thích ứng với già hóa dân số nhanh ở Việt Nam”, (Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2021), hay nghiên cứu về xu hướng suy giảm mức sinh của PGS, TS Hoàng Thị Nga, tiêu biểu là bài “Suy giảm mức sinh: Nhận diện từ góc độ dân số và phát triển trong bối cảnh mới”, (Tạp chí Lý luận chính trị số 580 (6-2026)), đã chứng minh rằng dân số không chỉ là bài toán về mặt số lượng, mà gắn liền với những dịch chuyển sâu sắc trong cấu trúc xã hội và tiến trình phát triển. Các nghiên cứu cho thấy những biến đổi về mức sinh trong mối quan hệ tương tác đa chiều với dân số và phát triển. Ở đây, tri thức dân số thuần túy đã trở thành tri thức xã hội học khi câu hỏi nghiên cứu được chuyển dịch từ “Dân số đang thay đổi như thế nào?” sang “Những thay đổi dân số đó đang làm biến đổi các quan hệ, các nhóm xã hội, hành vi và các thiết chế xã hội ra sao?”.
Thứ ba, tri thức về lao động, việc làm và các vấn đề xã hội
Lao động và việc làm là dòng tri thức gắn kết trực tiếp với những chuyển dịch của cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. Bài “Lao động - việc làm, giáo dục, y tế hiện nay và định hướng giải pháp” của PGS, TS Nguyễn Đức Chiện và TS Ngô Ngân Hà, (Tạp chí Lý luận chính trị điện tử ngày 10-11-2023), là minh chứng tiêu biểu. Với phương pháp tiếp cận từ các dữ liệu cơ cấu lao động, tỷ lệ việc làm, thất nghiệp, tiền lương, bảo hiểm xã hội, nghiên cứu phân tích, chỉ ra những tác động từ những biến động kinh tế đối với nhóm lao động. Giá trị xã hội học của hướng nghiên cứu này nằm ở khả năng đưa những biến động ở quy mô vĩ mô về kinh tế vào phân tích đời sống dân sinh của từng nhóm xã hội cụ thể. Sự thay đổi cơ cấu ngành nghề có thể dẫn đến sự thay đổi về vị thế xã hội; sự biến động của thị trường lao động có thể làm nảy sinh những nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương; sự dịch chuyển lao động có thể làm thay đổi sâu sắc cấu trúc quan hệ gia đình và cộng đồng.
Do đó, dưới góc nhìn xã hội học, lao động - việc làm không đơn thuần là các chỉ số kinh tế khô khan, mà là cơ chế xã hội trực tiếp phân bổ cơ hội, nguồn lực và vị thế xã hội của con người. Dòng tri thức này tạo ra chiếc cầu nối trực tiếp giữa nghiên cứu xã hội học với những hiện thực đời sống mà người học có thể dễ dàng quan sát hàng ngày. Đây cũng chính là yếu tố biến các bài báo khoa học trở thành những trường hợp nghiên cứu (case study) giá trị trong thực tiễn giảng dạy chuyên ngành xã hội học.
Thứ tư, tri thức về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Một hướng nghiên cứu có ý nghĩa đặc thù và giá trị nổi bật trong không gian học thuật của Tạp chí Lý luận chính trị là nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Dòng nghiên cứu này mở rộng phạm vi của xã hội học từ nhận diện, lý giải các hiện tượng xã hội sang nghiên cứu cơ chế quản lý, tổ chức và điều tiết các quá trình phát triển xã hội.
GS, TS Nguyễn Tuấn Anh, trong bài “Một số lý luận về mô hình trong nghiên cứu mô hình quản lý phát triển xã hội” (Tạp chí Lý luận chính trị, số 547, 9-2023), đặt vấn đề xây dựng và vận dụng mô hình quản lý phát triển xã hội như một phương thức nhận thức, phân tích các quá trình xã hội phức tạp. PGS, TS Trịnh Văn Tùng, với bài “Sự tiến triển của quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam và sự khởi đầu của hướng tăng trưởng bao trùm” (Tạp chí Lý luận chính trị, số 554, 4-2024), tiếp tục mở rộng hướng nghiên cứu sang mối quan hệ giữa quản lý phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế và bao trùm xã hội. Đáng chú ý, nghiên cứu của GS, TS Lê Ngọc Hùng về cải cách hành chính công (bài viết “Cải cách hành chính công: Từ mô hình truyền thống đến mô hình hậu quản lý công mới” (Tạp chí Lý luận chính trị số 535 (9-2022)), tiếp cận quản lý từ phương diện mô hình và nhấn mạnh yêu cầu vận dụng có phê phán, sáng tạo, dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn, đồng thời chú trọng đánh giá hiệu lực, hiệu quả của quá trình quản lý và cải cách.
Qua các nghiên cứu cho thấy sự giao thoa và tích hợp giữa xã hội học với khoa học chính trị, chính sách công và khoa học quản lý. Qua đó, tri thức xã hội học không chỉ góp phần nhận diện và lý giải các biến đổi xã hội, mà còn cung cấp cơ sở để xem xét tác động của chính sách, mô hình quản lý và các cơ chế thể chế đối với các nhóm xã hội; nhận diện những yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở quá trình thực thi; đồng thời góp phần đánh giá kết quả và hiệu quả của các can thiệp quản lý. Vì vậy, nghiên cứu xã hội học được chuyển hóa từ tri thức giải thích xã hội thành nguồn bằng chứng và luận cứ khoa học cho quản lý, hoạch định và thực thi chính sách, qua đó khẳng định giá trị ứng dụng của tri thức xã hội học trong tiến trình phát triển xã hội ở Việt Nam.
Thứ năm, tri thức xã hội học trước sự xuất hiện của những không gian xã hội mới
Bối cảnh chuyển đổi số hiện nay không chỉ làm thay đổi phương thức truyền thông, mà còn tái cấu trúc toàn bộ không gian và hình thái đời sống xã hội. Không gian số định hình nên những hình thức tương tác, những cộng đồng, hành vi và chuẩn mực hoàn toàn mới; đồng thời cũng tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng các hình thức bất bình đẳng mới.
Các nghiên cứu về xã hội số chỉ ra rằng, “khoảng cách số” có thể tạo ra sự phân hóa lớn về khả năng tiếp cận các nguồn lực xã hội, đặc biệt là giữa khu vực nông thôn và đô thị, giữa các nhóm độ tuổi và giữa các nhóm có năng lực số khác nhau. Không gian số đồng thời tác động sâu sắc đến sự nhận diện bản thân, định hình chuẩn mực và điều chỉnh hành vi xã hội. Đây là lĩnh vực được thể hiện trực tiếp qua bài “Một số vấn đề từ hướng tiếp cận xã hội học về chuyển đổi số ở Việt Nam” của TS Đỗ Văn Quân và TS Đặng Thị Minh Lý, (Tạp chí Lý luận chính trị điện tử ngày 06-03-2023); “Thích ứng xã hội của người dân đối với quá trình chuyển đổi số quốc gia (qua thực tiễn tỉnh Bắc Ninh)” của PGS, TS Đặng Thị Ánh Tuyết, Võ Thị Huế và Nguyễn Hữu Hoàng, (Tạp chí Lý luận chính trị số 574 (12-2025)). Các công trình này giúp mở rộng đối tượng nghiên cứu của xã hội học sang những không gian xã hội mới. Công nghệ không chỉ tạo ra công cụ mới, mà còn sản sinh ra các quan hệ xã hội mới. Do đó, nghiên cứu xã hội số cần trả lời các câu hỏi mang bản chất xã hội học về quyền lực, bất bình đẳng, hành vi, sự tương tác và khả năng thích ứng xã hội trong xã hội số.
Như vậy, các dòng tri thức xã hội học trên Tạp chí có thể được nhìn nhận như một tiến trình vận động liên tục, trong đó các hướng nghiên cứu không chỉ kế thừa mà còn bổ sung, mở rộng và tương tác với nhau, từ lý giải các vấn đề xã hội đến nhận diện những biến đổi mới của đời sống xã hội và cung cấp luận cứ khoa học cho thực tiễn. Trong dòng chảy học thuật của xã hội học Việt Nam, sự vận động và liên kết của các dòng tri thức này tạo nên giá trị vượt ra ngoài phạm vi từng bài viết riêng lẻ. Đó là sự tích lũy, kết nối và phát triển tri thức theo thời gian, góp phần định hình các hướng nghiên cứu, làm phong phú đời sống học thuật và khẳng định vai trò của Tạp chí như một không gian quan trọng trong kiến tạo, lan tỏa và phát triển tri thức xã hội học.
2.3 Nâng cao giá trị tri thức xã hội học của Tạp chí trong giai đoạn mới
Từ việc nhìn nhận Tạp chí Lý luận chính trị như một hạ tầng tri thức kết nối nghiên cứu - giảng dạy - thực tiễn, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới không chỉ tiếp tục duy trì và mở rộng hoạt động công bố, mà cần nâng cao giá trị, chất lượng và khả năng lưu chuyển của tri thức xã hội học được tạo lập trên Tạp chí. Điều đó đòi hỏi Tạp chí chuyển từ vai trò chủ yếu là nơi tiếp nhận và phổ biến kết quả nghiên cứu sang chủ động tổ chức đời sống tri thức, thúc đẩy kết nối các chủ thể, nâng cao chuẩn mực khoa học và tạo điều kiện để tri thức được tiếp tục sử dụng, kiểm chứng và phát triển. Trên cơ sở đó, một số định hướng trọng tâm cần được chú ý như sau:
Thứ nhất, Tạp chí chú trọng chuyển từ “tiếp nhận bài viết xã hội học” sang chủ động kiến tạo các dòng tri thức xã hội học. Trong giai đoạn mới, Tạp chí Lý luận chính trị cần chuyển mạnh từ tư duy tiếp nhận các bài viết có sẵn sang chủ động nhận diện những vấn đề xã hội mới và tổ chức các dòng nghiên cứu trọng tâm. Điều này có thể được thực hiện thông qua lựa chọn chủ đề ưu tiên, xây dựng các chuyên mục, chuyên đề, diễn đàn học thuật và kết nối các nhóm nghiên cứu. Qua đó tạo không gian học thuật cởi mở để nhiều cách tiếp cận lý thuyết và phương pháp cùng tham gia lý giải những vấn đề xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, nâng cao hàm lượng phương pháp và bằng chứng thực nghiệm trên mỗi bài viết đăng tải. Nâng cao giá trị tri thức xã hội học trước hết đòi hỏi tăng cường tính chặt chẽ về phương pháp luận và độ tin cậy của bằng chứng thực nghiệm. Bên cạnh nền tảng lý thuyết, các nghiên cứu cần được khuyến khích sử dụng linh hoạt các phương pháp định lượng, định tính, nghiên cứu hỗn hợp, nghiên cứu trường hợp, khảo sát xã hội học, dữ liệu thứ cấp và các nguồn dữ liệu mới phù hợp. Mỗi bài viết cần chú trọng sự phù hợp giữa câu hỏi nghiên cứu, phương pháp, dữ liệu và lập luận khoa học. Qua đó giúp nâng cao độ tin cậy của tri thức được công bố, đồng thời tạo ra những công trình có giá trị đối với nghiên cứu và giảng dạy, giúp người học không chỉ tiếp nhận kết quả nghiên cứu mà còn tiếp cận được cách thức hình thành và kiểm chứng bằng chứng xã hội học.
Thứ ba, tạo cơ chế để tri thức được tái sử dụng trong nghiên cứu và giảng dạy. Giá trị của một công trình khoa học không chỉ được xác định ở thời điểm công bố, mà còn ở khả năng được tìm kiếm, tiếp cận, trích dẫn, sử dụng và phát triển trong những nghiên cứu, hoạt động đào tạo và thực tiễn tiếp theo. Vì vậy, việc xây dựng hệ sinh thái trích dẫn, tăng khả năng tiếp cận và hướng dẫn khai thác tài liệu của Tạp chí cần được xem như một cơ chế phát triển vòng đời tri thức, chứ không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật. Khi được tiếp tục sử dụng trong nghiên cứu hoặc trở thành học liệu giảng dạy, tri thức được công bố sẽ không bị “đóng băng” trên trang tạp chí, mà được tái diễn giải, kiểm chứng và phát triển trong những bối cảnh mới. Đây chính là cơ chế làm gia tăng sức sống, giá trị học thuật và tác động lâu dài của mỗi công trình.
Thứ tư, Tạp chí chú trọng xây dựng cộng đồng học thuật xã hội học rộng mở. Nâng cao giá trị tri thức của Tạp chí đồng thời cần mở rộng cộng đồng tham gia vào quá trình sản xuất, thẩm định và lan tỏa tri thức, bao gồm các viện nghiên cứu/chuyên ngành trong và ngoài Học viện, trường đại học, cơ sở đào tạo, giảng viên, nghiên cứu sinh, nhà quản lý và các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước. Cùng với đó, cần tiếp tục nâng cao chất lượng phản biện kín, chuẩn hóa yêu cầu phương pháp luận và tiệm cận các chuẩn mực công bố khoa học tiên tiến. Một cộng đồng học thuật mạnh không chỉ ở quy mô lượng người tham gia, mà còn thể hiện sắc rõ ở chất lượng của các tương tác học thuật và khả năng tạo ra, kiểm chứng, tranh luận và phát triển tri thức mới. Vì vậy, mục tiêu của Tạp chí không đơn thuần là gia tăng số lượng bài xã hội học được công bố, mà là từng bước trở thành một “nút mạng” tri thức quan trọng của cộng đồng xã hội học - nơi kết nối các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp, bằng chứng, tranh luận và hợp tác khoa học, qua đó thúc đẩy sự phát triển liên tục của tri thức xã hội học Việt Nam.
3. Kết luận
Nhìn từ lý thuyết xã hội học truyền thông, Tạp chí Lý luận chính trị không chỉ là nơi công bố kết quả nghiên cứu, mà còn góp phần xây dựng hạ tầng thẩm định, lưu chuyển, tích lũy và tái sản xuất tri thức, kết nối nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn xã hội học.
Các dòng tri thức về cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội và bất bình đẳng, dân số, gia đình, lao động, quản lý phát triển xã hội và những không gian xã hội mới đã góp phần nhận diện, lý giải những biến đổi của xã hội Việt Nam bằng tư duy và phương pháp luận xã hội học. Giá trị của Tạp chí vì thế không chỉ nằm ở từng công trình, mà ở khả năng kết nối, lan tỏa và phát triển liên tục các dòng tri thức.
Trong giai đoạn mới, Tạp chí cần chuyển mạnh từ truyền tải kết quả nghiên cứu sang tổ chức đời sống tri thức; từ tiếp nhận bài viết sang chủ động kiến tạo các vấn đề nghiên cứu; từ cung cấp tài liệu tham khảo sang phát triển hạ tầng học liệu; từ kết nối đơn tuyến sang xây dựng cộng đồng học thuật mở. Qua đó, giá trị của Tạp chí đối với xã hội học không chỉ được đo bằng số lượng công trình công bố, mà quan trọng hơn là bằng khả năng duy trì dòng chảy, thúc đẩy tương tác và tái tạo tri thức, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho nhận thức và giải quyết những vấn đề của xã hội Việt Nam.
_________________
Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày bình duyệt: 20/9/2026; Ngày quyết định đăng: 5/10/2026
Email tác giả: lanntp86@gmail.com