Trang chủ    Ảnh chính    Những biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khu vực Biển Đông
Thứ tư, 24 Tháng 6 2020 11:01
176 Lượt xem

Những biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khu vực Biển Đông

(LLCT) - Khu vực Biển Đông đang đứng trước vòng xoáy địa chiến lược, do lịch sử để lại những tranh chấp chủ quyền biển, đảo khó giải quyết, quan điểm về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia giữa các bên liên quan còn nhiều bất đồng, mâu thuẫn, khó tìm được tiếng nói chung. Do vậy, vấn đề căn cơ là các bên cần cùng nhau xây dựng lòng tin chiến lược, thỏa thuận với nhau biện pháp giải quyết tranh chấp, trên cơ sở Hiến chương Liên Hợp quốc, luật pháp quốc tế, luật biển quốc tế để giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo bằng biện pháp hòa bình. Bài viết góp phần luận giải những biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khu vực Biển Đông.

Chiến sĩ Hải quân trên Quần đảo Trường Sa _ Ảnh:tsvn.com

Từ khóa: biện pháp hòa bình; tranh chấp chủ quyền biển, đảo; Biển Đông.

Theo Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc, những biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế bao gồm: (i) Đàm phán ngoại giao trực tiếp; (ii) Điều tra, trung gian, hòa giải; (iii) Tòa án, trọng tài; (iv) Các tổ chức, hiệp định khu vực; (v) Các biện pháp hòa bình khác. Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp còn được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau tại Liên Hợp quốc, thể hiện trong quá trình soạn thảo văn kiện sử dụng môi giới, trung gian, hòa giải và sổ tay việc giải quyết tranh chấp. Thực tiễn cho thấy, các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp có thể là các biện pháp do các bên trực tiếp giải quyết như đàm phán trực tiếp, hoặc giải quyết với sự hỗ trợ của bên thứ ba như Ủy ban điều tra, Ủy ban hòa giải, trung gian, giải quyết nhờ sự can thiệp của cơ quan tư pháp, trọng tài hoặc các tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực... Luật quốc tế đã đưa ra nhiều biện pháp có thể giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế mà cụ thể là tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo, quyền tự do lựa chọn các biện pháp thuộc về các bên tham gia tranh chấp. Trên thực tế, nhiều trường hợp các bên tranh chấp phải kết hợp sử dụng nhiều biện pháp khác nhau mới giải quyết hòa bình bất đồng tồn tại giữa các bên. Việc lựa chọn biện pháp cụ thể nào chủ yếu phụ thuộc vào bản chất của tranh chấp và ý chí của các bên liên quan. Tuy nhiên, nếu các bên tranh chấp không thỏa thuận được với nhau về việc lựa chọn các biện pháp để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, các bên có thể nhờ sự can thiệp của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc với những biện pháp đã được quy định tại Điều 33 của Hiến chương Liên Hợp quốc. Trên cơ sở pháp luật quốc tế như vậy, có thể phân loại các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo theo các nhóm sau: (i) Đàm phán trực tiếp; (ii) Các biện pháp hỗ trợ như môi giới, trung gian, Ủy ban điều tra, Ủy ban hòa giải; (iii) Các biện pháp tư pháp như tòa án, trọng tài; (iv) Giải quyết tranh chấp tại các tổ chức quốc tế hoặc trên cơ sở dàn xếp quốc tế mang tính chất khu vực.

Trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông khó giải quyết, quan điểm của các bên liên còn nhiều bất đồng, một số quốc gia đã có những hành động gia tăng căng thẳng trên thực địa. Vậy cách thức nào để góp phần giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khu vực Biển Đông mà đã được luật pháp quốc tế quy định, đó chính là các bên liên quan cần phải nghiên cứu vận dụng những biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế.

1. Biện pháp đàm phán trực tiếp

Đàm phán trực tiếp là sự tiếp xúc trực tiếp giữa các bên hữu quan-chủ thể luật quốc tế để giải quyết những vấn đề mà các bên quan tâm. Trong trường hợp tranh chấp xảy ra, các bên hữu quan trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, thảo luận để tìm ra giải pháp hòa bình giải quyết tranh chấp. Đàm phán trực tiếp là biện pháp cơ bản, hữu hiệu và thông dụng nhất để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia trên cơ sở các bên trực tiếp trình bày quan điểm của mình và xem xét ý chí, quan điểm của mỗi bên đối thoại, nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau. Do tầm quan trọng của biện pháp đàm phán trực tiếp, cho nên Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc đã đưa biện pháp đàm phán trực tiếp lên hàng đầu trong số các biện pháp khác. Biện pháp này còn được ghi nhận ở vị trí hàng đầu tại một số điều ước quốc tế khác như Điều 24 của Điều lệ tổ chức các nước châu Mỹ, Điều lệ tổ chức thống nhất châu Phi, Văn kiện cuối cùng của hội nghị Helsinki, Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển quốc tế năm 1982 v.v.. Thực tế quan hệ quốc tế cũng chứng minh rằng, biện pháp đàm phán trực tiếp là biện pháp hiệu quả và linh hoạt nhất trong các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp.

Đàm phán có thể diễn ra dưới hình thức đàm phán ở bàn hội nghị hoặc đàm phán thông qua một trung gian. Đàm phán ở bàn hội nghị được áp dụng đối với tranh chấp giữa hai bên và nhiều bên. Đàm phán ở bàn hội nghị đảm bảo cho các bên tham dự thể hiện được quan điểm của mình, bảo đảm quyền lợi của các bên trực tiếp tham gia tranh chấp và các bên có lợi ích liên quan khác. Do vậy, trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khu vực Biển Đông có trường hợp liên quan đến hai nước tức song phương, có trường hợp liên quan đến nhiều nước tức đa phương, do vậy cần thiết sử dụng hình thức đàm phán tại bàn hội nghị(1). Đàm phán thông qua trung gian là việc các bên tham gia tranh chấp không trực tiếp trao đổi quan điểm, lập trường, ý chí của mình mà thông qua trung gian. Đàm phán trực tiếp được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng nhau với sự thể hiện thiện chí giải quyết tranh chấp của các bên có tính đến sự nhượng bộ lẫn nhau, tức các bên liên quan đều có bước nhượng bộ nhất định. Thực tiễn lịch sử cho thấy, mọi tranh chấp chủ quyền về biển, đảo đều bắt nguồn từ sự bất đồng về lợi ích, quan điểm, cho nên để giải quyết được chúng cần có sự nhượng bộ nhất định trong một vài khía cạnh nào đó với tinh thần mong muốn thực sự chấm dứt tranh chấp.

Đàm phán trực tiếp là một biện pháp hữu hiệu và quan trọng. Nó có thể giải quyết hoàn toàn được tranh chấp nhưng cũng có thể chỉ dừng lại ở sự thỏa thuận của các bên, sẽ áp dụng biện pháp hòa bình khác để giải quyết tranh chấp như lập ra các ủy ban điều tra, hòa giải, quyết định đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài hay Tòa án quốc tế. Từ lịch sử cho thấy, đàm phán trực tiếp là biện pháp được Nhà nước Việt Nam áp dụng đối với mọi trường hợp giải quyết tranh chấp về biên giới lãnh thổ trong lịch sử hiện đại của mình. Từ khi chưa còn là thành viên của ASEAN, Việt Nam đã tuyên bố ủng hộ Tuyên bố của các ngoại trưởng ASEAN ngày 18-3-1995. Trong tuyên bố của mình, Nhà nước Việt Nam nhấn mạnh lập trường của mình: mọi tranh chấp chủ quyền đối với các quần đảo ngoài Biển Đông cần phải được giải quyết thông qua thương lượng hòa bình; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, các bên liên quan cần phải tự kiềm chế, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Trong quan hệ với Trung Quốc, chúng ta cũng thể hiện lập trường nêu trên thông qua Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được ký giữa hai nước tại Hà Nội ngày 19-10-1993. Thỏa thuận này ghi nhận những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ như sau: (i) Thông qua thương lượng giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước trên cơ sở 5 nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và tồn tại hòa bình. (ii) Hai bên đồng ý đẩy nhanh tiến trình đàm phán, sớm giải quyết những vấn đề biên giới, lãnh thổ bao gồm trên biển và trên bộ... Trong quá trình đàm phán giải quyết vấn đề, hai bên đều không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tranh chấp, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực. (iii) Hai bên canh cứ vào tiêu chuẩn và nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận và tham khảo thực tiễn quốc tế để giải quyết các vấn đề về biên giới lãnh thổ.

2. Những biện pháp hỗ trợ như môi giới và trung gian

Môi giới và trung gian là các biện pháp hỗ trợ với sự tham gia của bên thứ ba-bên không tham gia tranh chấp dàn xếp, thuyết phục các bên tranh chấp gặp gỡ, trao đổi hoặc ngồi vào bàn đàm phán để giải quyết tranh chấp. Trong vai trò môi giới, bên thứ ba(2) không tham gia đàm phán với các bên tranh chấp và không kiến nghị giải pháp giải quyết tranh chấp. Vai trò môi giới của bên thứ ba kết thúc khi các bên gặp gỡ hoặc tổ chức đàm phán. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, môi giới cũng có thể tham gia đàm phán nhưng phải được sự thỏa thuận của các bên tranh chấp. Trong trường hợp này, bên thứ ba đã đóng vai trò trung gian. Môi giới có thể do bên thứ ba tự nguyện thực hiện hoặc theo đề nghị của các bên tham gia tranh chấp và các bên tham gia tranh chấp có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận môi giới tùy theo ý chí của họ. Trung gian là sự tham gia tích cực của bên thứ ba dàn xếp các bên tranh chấp gặp gỡ, ngồi vào bàn đàm phán và cùng tham gia vào quá trình đàm phán với các bên tranh chấp. Trung gian thường đề xuất những sáng kiến cụ thể giải quyết từng phần hoặc toàn bộ tranh chấp. Những sáng kiến này có tính chất khuyến nghị đối với các bên tranh chấp, trách nhiệm lựa chọn giải pháp cuối cùng thuộc về các bên tham gia tranh chấp. Như vậy, vai trò trung gian tích cực và chủ động hơn vai trò môi giới. Môi giới chỉ áp dụng nhằm mục đích thúc đẩy các bên tranh chấp gặp gỡ, đàm phán trực tiếp. Còn trung gian không chỉ tạo điều kiện cho các bên tranh chấp ngồi vào bàn đàm phán mà còn cùng tham gia vào quá trình đàm phán với mục đích dung hòa lợi ích các bên, đưa ra những giải pháp cụ thể khuyến nghị các bên áp dụng. Trong khi thực hiện vai trò trung gian, bên thứ ba phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng chủ quyền của các bên tranh chấp, không can thiệp vào công việc nội bộ của các bên tranh chấp. Cuối cùng, môi giới hay trung gian cũng chỉ là biện pháp hỗ trợ các bên tham gia tranh chấp. Để có được kết quả cuối cùng, một sự nhất trí của các bên đối với phương án giải quyết tranh chấp, các bên tham gia tranh chấp phải thể hiện thiện chí và sự tích cực của mình giải quyết bất đồng một cách hợp lý nhất. Các biện pháp môi giới và trung gian được đề cập đến trong Công ước La Hay 1899 và được bổ sung trong Công ước La Hay 1907. Công ước cho phép các quốc gia ký kết có quyền đề nghị môi giới hoặc trung gian, ngay cả trong thời kỳ chiến tranh. Công ước cũng buộc các bên tranh chấp, trong trường hợp có thể phải sử dụng biện pháp môi giới, trung gian trước khi sử dụng vũ lực. Các biện pháp này được chi tiết hóa trong các điều ước quốc tế khu vực châu Mỹ(3). Biện pháp trung gian còn được đề cập đến trong Hiến chương Liên Hợp quốc. Từ năm 1983-1988, Ủy ban đặc biệt về Hiến chương Liên Hợp quốc đã thảo luận dự thảo các điều khoản về môi giới trung gian.

3. Các ủy ban điều tra và hòa giải

Khi tranh chấp phát sinh, các bên có thể thỏa thuận thành lập ủy ban điều tra hoặc ủy ban hòa giải để giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo một cách hòa bình hoặc để tạo cơ sở áp dụng các biện pháp hòa bình khác nhằm giải quyết tranh chấp. Ủy ban điều tra và hòa giải quốc tế thường được thành lập trên cơ sở nhất trí của các bên tranh chấp theo nguyên tắc đồng đều đại diện. Quy chế pháp lý về ủy ban điều tra giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế được quy định trong các Công ước La Hay năm 1899 và 1907. Ủy ban hòa giải quốc tế được đề cập đến muộn hơn vào năm 1909. Hai biện pháp này được ghi nhận tại Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc. So với các biện pháp môi giới và trung gian, những biện pháp này được áp dụng theo trình tự chặt chẽ hơn. Ủy ban điều tra có nhiệm vụ xác minh các yếu tố, sự kiện dẫn tới tranh chấp. Ủy ban hòa giải có nhiệm vụ lớn hơn, không chỉ xác định các yếu tố, sự kiện dẫn tới tranh chấp mà còn nêu ra giải pháp cho việc giải quyết tranh chấp. Cũng như các giải pháp bên trung gian kiến nghị, giải pháp của ủy ban hòa giải chỉ có tính chất khuyến nghị, không có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp. Các ủy ban điều tra, ủy ban hòa giải thường được thành lập để giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ. Trên cơ sở xác định các sự kiện thực tế phát sinh tranh chấp, các bên có thể giải quyết các tranh chấp chủ quyền biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, tránh xung đột vũ trang. Các bên tranh chấp ký kết thỏa thuận về việc thành lập ủy ban điều tra, ủy ban hòa giải khi tranh chấp chủ quyền biển, đảo phát sinh cần giải quyết hoặc cũng có thể ký trước với nhau hiệp định, trong đó quy định việc thành lập ủy ban nếu phát sinh tranh chấp. Ủy ban điều tra thông thường được thành lập từ 5 thành viên, trong đó mỗi bên chỉ định hai người, bốn người này sẽ thỏa thuận để cử người thứ năm. Ủy ban hòa giải cũng được thành lập theo trình tự tương tự.

4. Các biện pháp xét xử

Các bên tham gia tranh chấp chủ quyền biển, đảo có thể thỏa thuận áp dụng biện pháp trọng tài hoặc tòa án để giải quyết tranh chấp chủ quyền về biển, đảo. Biện pháp này được áp dụng nhiều trong quan hệ giữa các nước có tranh chấp chủ quyền một số nơi trên thế giới. Thực tiễn đã có những án lệ giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo trở thành những án lệ kinh điển mà các thế hệ sau thường tham khảo và viện dẫn. Nhất là ở các nước Tây Âu, có sự tương đồng về các điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội... Các biện pháp xét xử tại tòa án hoặc trọng tài được đề cập đến trong Công ước La Hay 1907 về giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, trong Hiến chương Liên Hợp quốc, trong Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển quốc tế năm 1982... Các bên có thể thỏa thuận trước về tài phán bắt buộc của Tòa án hoặc trọng tài. Theo thỏa thuận đó, nếu trong các trường hợp tranh chấp xảy ra, mỗi bên có quyền đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án hoặc trọng tài theo Khoản 2 Điều 36 Quy chế Tòa án quốc tế.

- Trọng tài quốc tế

Trọng tài quốc tế là cơ quan xét xử quốc tế được thành lập trên cơ sở thỏa thuận hay còn gọi là hiệp định về trọng tài giữa các bên liên quan đến tranh chấp. Trọng tài có thể là một cá nhân hoặc một hội đồng, quyết định của trọng tài có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các bên tranh chấp. Trong lịch sử quan hệ quốc tế, giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo bằng biện pháp trọng tài được áp dụng từ lâu đời. Ví dụ, trong vụ giải quyết tranh chấp chủ quyền đảo Palmas giữa Hòa Kỳ và Hà Lan. Thẩm phán Max Huber đã ra phán quyết: Tây Ban Nha không thể chuyển nhượng hợp pháp cái mà họ không sở hữu. Bởi quả nhiên họ nắm giữ sở hữu ban đầu khi khám phá đảo, nhưng sau đó không thực thi quyền lực thực sự với đảo nên đòi hỏi của Hoa Kỳ là yếu ớt, mờ nhạt và không được chấp nhận. Ngược lại các hoạt động của Hà Lan đối với đảo Palmas là đặc trưng quyền lực của nhà nước, nó diễn ra trong hòa bình bởi không có xung đột nào giữa các quốc gia, nó liên tục trong suốt thời gian dài, mặc dù cũng có những khoảng trống nhất định cụ thể từ năm 1726 đến năm 1825. Như vậy, Palmas là lãnh thổ thuộc sở hữu của Hà Lan(4).

Công ước La Hay năm 1899 và 1907 về giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế đã chú trọng đến trọng tài quốc tế và xem đó là một biện pháp hữu hiệu công bằng và hợp lý để giải quyết tranh chấp trong những trường hợp áp dụng biện pháp ngoại giao không thành công. Theo công ước này, các bên tranh chấp có thể lựa chọn biện pháp trọng tài, kể cả trọng tài thường trực tùy thuộc vào ý chí của các bên. Trên cơ sở Công ước La Hay 1899 và 1907, trọng tài thường trực được thành lập năm 1900. Trọng tài thường trực không có một hội đồng thẩm phán cố định mà chỉ có danh sách các trọng tài viên do các nước cử ra, theo đó mỗi nước cử ra tối đa 4 người. Các bên tranh chấp sẽ chọn trong danh sách đó, thông thường theo trình tự sau: mỗi bên chọn 2 trọng tài viên(5), 4 người được chọn sẽ thỏa thuận chọn người thứ 5 làm chủ tọa. Các bên tranh chấp sẽ ký một hiệp định trong đó xác định đối tượng tranh chấp và thỏa thuận về hiệu lực pháp lý bắt buộc của quyết định trọng tài. Sau chiến tranh thế giới thứ II, Ủy ban luật quốc tế của Liên Hợp quốc đã soạn thảo quy chế mẫu về thủ tục trọng tài và được Đại hội đồng thông qua năm 1958. Thủ tục trọng tài cũng được đề cập khá chi tiết trong các điều ước quốc tế khu vực như hiệp định về hòa bình giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia châu Mỹ năm 1948, nghị định thư thống nhất châu Phi về trung gian, hòa giải và trọng tài năm 1964... Hiện nay, trọng tài được thành lập từ số lẻ các trọng tài viên. Nếu trọng tài được thành lập với một trọng tài viên duy nhất, thì người này nhất thiết phải là công dân của nước thứ ba, tức là công dân của nước không có liên quan đến tranh chấp chủ quyền biển, đảo. Trường hợp Hội đồng trọng tài gồm 3 hoặc 5 thành viên thì mỗi nước được cử 1 hoặc 2 trọng tài viên là công dân của nước mình hoặc nước thứ ba. Chủ tịch hội đồng là người của nước thứ ba do các bên tranh chấp cùng lựa chọn hoặc do các trọng tài viên được các bên cử ra sẽ thỏa thuận lựa chọn. Trong trường hợp các bên không lựa chọn được Chủ tịch Hội đồng thì có thể ủy quyền cho Tổng thư ký Liên Hợp quốc, Chánh án Tòa án quốc tế Liên Hợp quốc hoặc Chánh án Tòa án Luật Biển(6) lựa chọn.

Việc đưa tranh chấp chủ quyền biển, đảo ra xét xử tại trọng tài tùy thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp. Các bên có thể ghi nhận sự nhất trí của mình trong hiệp định về trọng tài, trong cam kết hoặc thỏa thuận giữa các bên về việc đưa tranh chấp nhất định nào đó nảy sinh giữa họ ra trọng tài, hoặc trong những điều khoản đặc biệt của những hiệp định ký kết giữa hai nước. Các bên có thể thỏa thuận đưa một phần hoặc toàn bộ tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài. Luật áp dụng giải quyết các tranh chấp chủ quyền biển, đảo giữa các quốc gia tại trọng tài là luật quốc tế, tuy nhiên, trong một số trường hợp hội đồng trọng tài có thể viện dẫn pháp luật một quốc gia để giải quyết(7). Quyết định của trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp. Quyết định của trọng tài chỉ được xem xét lại trong trường hợp có những sự kiện mới có ảnh hưởng cơ bản đến nội dung quyết định mà trước đó trọng tài chưa được biết đến.

- Tòa án quốc tế

Tòa án quốc tế là cơ quan xét xử thường trực bao gồm những thẩm phán được bầu ra với nhiệm kỳ nhất định và giải quyết các vụ việc mà các bên tranh chấp yêu cầu. Quyết định của tòa án có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với các bên tranh chấp.

Tòa án quốc tế chỉ có thẩm quyền xét xử những vụ kiện giữa các quốc gia, trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các quốc gia hữu quan đó. Tòa không có thẩm quyền xét xử những vụ việc mà đương sự là thể nhân(8), pháp nhân(9), trừ khi quốc gia đồng ý đứng ra là nguyên đơn thì tòa án sẽ xét xử để bảo vệ quyền lợi thể nhân và pháp nhân này. Thẩm quyền xét xử của tòa án phụ thuộc vào ý chí của các quốc gia có liên quan. Các quốc gia là thành viên của quy chế tòa án có thể tuyên bố về việc chấp nhận thẩm quyền xét xử bắt buộc của tòa án quốc tế giải quyết tranh chấp có nội dung liên quan đến: (i) Giải thích điều ước; (ii) Vấn đề công pháp quốc tế; (iii) Vi phạm nghĩa vụ quốc tế; (iv) Tính chất và mức độ bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ quốc tế.

5. Giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền biển, đảo tại các tổ chức quốc tế

Giải quyết các tranh chấp chủ quyền biển, đảo tại các tổ chức quốc tế được xem là một trong những nội dung cơ bản của luật quốc tế hiện nay. Tình hình tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên thế giới nói chung, khu vực Biển Đông nói riêng cần được giải quyết hòa bình tại các tổ chức quốc tế.

- Liên Hợp quốc

Điều 1 Hiến chương Liên Hợp quốc ghi nhận mục đích quan trọng của Liên Hợp quốc là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Điều 33 của Hiến chương Liên Hợp quốc đề cập đến những biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, nhất là tranh chấp chủ quyền biển, đảo. Trong số các cơ quan của Liên Hợp quốc, ngoài tòa án quốc tế có chức năng giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo giữa các quốc gia, còn có Đại hội đồng và Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc thực hiện các chức năng giải quyết tranh chấp quốc tế, duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.

Hội đồng bảo an là cơ quan có trách nhiệm chủ yếu duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thay mặt Liên Hợp quốc và các thành viên tiến hành các hoạt động linh hoạt và có hiệu quả để thực hiện mục đích này(10). Hội đồng bảo an có trách nhiệm yêu cầu các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình(11). Hội đồng bảo an có thẩm quyền điều tra mọi tranh chấp hoặc mọi tình huống có thể dẫn đến sự bất hòa hoặc tranh chấp giữa các quốc gia, trên cơ sở đó xác định nguy cơ đe dọa hòa bình của những tình huống này. Theo sự xem xét của Hội đồng bảo an, nếu có dấu hiệu đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế, Hội đồng bảo an có thể kiến nghị các bên tranh chấp dùng biện pháp hòa bình để giải quyết trong trường hợp các bên tranh chấp không tự giải quyết trên cơ sở tự lựa chọn biện pháp được đề cập đến tại Khoản 1 Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc, các bên phải đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại Hội đồng bảo an. Hội đồng bảo an sẽ kiến nghị các thủ tục, phương thức giải quyết thích hợp. Hội đồng bảo an có thẩm quyền xem xét các vấn đề mà các nước thành viên hoặc không thành viên của Liên Hợp quốc cũng như các vấn đề Đại hội đồng đề nghị Hội đồng bảo an xem xét. Hội đồng bảo an là cơ quan duy nhất có thể quyết định áp dụng các biện pháp phi quân sự và các biện pháp cưỡng chế đối với các bên tranh chấp nếu như nhận thấy nguy cơ đe dọa hòa bình và an ninh không được cải thiện mà có xu hướng diễn biến xấu đi. Tóm lại, Hội đồng bảo an thực hiện các chức năng môi giới(12), trung gian(13), điều tra(14). Đại hội đồng Liên Hợp quốc có thẩm quyền thông qua các nghị quyết về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế.

- Các tổ chức quốc tế khu vực

Khoản 1 Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc quy định việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế thông qua các tổ chức quốc tế khu vực bằng các dàn xếp, các thỏa thuận, hiệp định mang tính chất khu vực được xem là một trong các phương thức giải quyết do Liên Hợp quốc kiến nghị với các nước thành viên. Hiến chương Liên minh các nước Ả Rập quy định, Hội đồng liên minh có chức năng hòa giải các tranh chấp giữa các nước thành viên. Hội đồng có thể giữ vai trò môi giới hoặc trọng tài. Vai trò quan trọng trong việc hòa giải các bên tranh chấp trong khu vực thuộc về Hội nghị định kỳ của nguyên thủ quốc gia. Hiến chương tổ chức thống nhất châu Phi quy định giải quyết hòa bình tranh chấp giữa các nước thành viên bằng đàm phán, trung gian, hòa giải và trọng tài. Ngoài ra, Hiến chương cũng quy định các thủ tục giải quyết tranh chấp khác. Vai trò quan trọng giải quyết tranh chấp giữa các nước trong khu vực về Hội đồng thường trực, Hội đồng tư vấn các Bộ trưởng Ngoại giao, Hội đồng thường kỳ những người đứng đầu quốc gia, chính phủ và các nước thành viên. Tổ chức các nước châu Mỹ cũng đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết tranh chấp giữa các nước trong khu vực bằng các biện pháp hòa bình.

Hiệp hội các nước Đông Nam Á - ASEAN với 10 thành viên chính thức, trong đó có Việt Nam cũng đóng vai trò tích cực trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế giữa các nước thành viên với nhau, nhất là việc giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo. Theo Điều 2 Hiệp định thân thiện và hợp tác Đông Nam Á ký tại Ba Li ngày 24-2-1976 ghi nhận giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là một trong 6 nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước thành viên. Chương IV của Hiệp ước đề cập đến vấn đề giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Các bên tham gia Hiệp ước cam kết ngăn chặn tranh chấp và trong trường hợp tranh chấp xảy ra sẽ giải quyết trên cơ sở hòa bình, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực. Các bên đề cao việc giải quyết bằng thương lượng các tranh chấp trước khi áp dụng các biện pháp được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp quốc.

Các nước thành viên hiệp ước thỏa thuận: Sau khi tranh chấp xảy ra, sẽ thành lập một hội đồng cao cấp gồm đại diện cấp bộ trưởng của mỗi bên tham gia ký kết hiệp ước để ghi nhận tranh chấp, đóng vai trò trung gian, điều tra, hoặc hòa giải, đưa ra những đề xuất có tính chất khuyến nghị về các biện pháp giải quyết thích đáng tranh chấp. Hiệp ước Ba Li cũng ghi nhận việc áp dụng các điều khoản về giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ ASEAN phải có sự đồng ý của các bên tham gia tranh chấp. Tuy vậy, không có loại trừ khả năng các bên khác không tham gia tranh chấp có thể đưa ra mọi sự giúp đỡ cần thiết hỗ trợ các bên tranh chấp. Cuối cùng, để giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền biển đảo trên thế giới, trong lịch sử nhân loại đã áp dụng các biện pháp khác nhau, song trong quá trình giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo cũng như kết quả cuối cùng của quá trình đó phụ thuộc chủ yếu vào thiện chí của chính các bên tham gia tranh chấp chủ quyền.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2020

(1) Hình thức này thường được các nước chưa đủ mạnh về tiềm lực quân sự, kinh tế sử dụng để tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của các nước, các tổ chức quốc tế và dư luận tiến bộ thế giới.

(2) Bên thứ ba có thể là cá nhân, một nước hoặc một nhóm nước.

(3) Hiệp ước về môi giới và trung gian năm 1936, Công ước Bogota năm 1948.

(4) Reports of International Arbitral Awards Recueil Dessentences Arbitrales. Island of Palmas case -Netherlands, USA, 4 April 1928, Volume II pp. 829 - 871.

(5) Điều chú ý là chỉ một trong hai người là công dân nước mình.

(6) Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển quốc tế năm 1982, như trường hợp Philippines kiện Trung Quốc.

(7) Ví dụ: vụ Trail Smelter giữa Canada và Mỹ, các bên chỉ ra rằng trong trường hợp này luật của Mỹ áp dụng phù hợp hơn các quy phạm pháp luật quốc tế.

(8) Trong luật học, thể nhân hay tự nhiên nhân là một con người có thể cảm nhận được thông qua các giác quan và bị các quy luật tự nhiên chi phối, ngược lại với pháp nhân, là một tổ chức nào đó, mà vì một số mục đích nhất định thì luật pháp xem như là một cá nhân tách biệt với các thành viên và/hoặc chủ sở hữu của nó. Ví dụ, các điều khoản pháp lý như sửa đổi thứ 19 của Hiến pháp Hoa Kỳ đảm bảo quyền bầu cử của phụ nữ, chỉ áp dụng cho thể nhân mà thôi. Trong nhiều trường hợp thì các quyền con người cơ bản hoàn toàn chỉ được dành cho thể nhân; ví dụ một công ty không thể đảm nhiệm một chức vụ trong xã hội, nhưng công ty này có thể khởi kiện hay có thể bị khởi kiện. Mặc dù các truyện khoa học viễn tưởng từ lâu rồi đã mơ tưởng về khả năng tồn tại của các người máy - robot có tri giác, nhưng cho tới nay vẫn chưa có một tòa án nào xem xét câu hỏi về việc các dạng người máy này có thể được coi là thể nhân hay không.

(9) Pháp nhân là một định nghĩa trong luật pháp về một thực thể mang tính hội đoàn, thường dùng trong luật kinh tế. Về pháp nhân có rất nhiều quan điểm và học thuyết như: có thuyết cho pháp nhân là một chủ thể giả tạo, có thuyết cho nó là một chủ thể thực sự... Nhưng quan trọng nhất pháp nhân chỉ ra được các thực thể hội đoàn có những biểu hiện tương tự như thể nhân. Pháp nhân có nhiều định nghĩa, song theo pháp luật Việt Nam thì pháp nhân là những tổ chức có tư cách pháp lý độc lập để tham gia các hoạt động pháp lý khác như chính trị, kinh tế, xã hội... Một cá nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân thì cũng không được pháp luật công nhận có quyền ký kết các văn kiện pháp lý về kinh tế, chính trị, xã hội nếu cố tình ký kết thì văn bản đó sẽ bị coi là vô hiệu lực.

(10) Khoản 1 Điều 24 Hiến chương Liên Hợp quốc.

(11) Khoản 2 Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc.

(12) Chức năng môi giới được quy định tại Điều 36 của Hiến chương Liên Hợp quốc.

(13) Chức năng trung gian được quy định tại Điều 37 của Hiến chương Liên Hợp quốc.

(14) Chức năng điều tra được quy định tại Điều 34 của Hiến chương Liên Hợp quốc.

Trung tá TS Nguyễn Thanh Minh

Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển

Các bài viết khác