Trang chủ    Thực tiễn

Thực tiễn

Phát triển mô hình sinh kế bền vững dựa trên tiềm năng tri thức bản địa các tộc người thiểu số ở vùng Đông Bắc

Phát triển mô hình sinh kế bền vững dựa trên tiềm năng tri thức bản địa các tộc người thiểu số ở vùng Đông Bắc

(LLCT) - Sinh kế là hoạt động kiếm sống của con người thông qua việc sử dụng các nguồn lực (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội...). Khi hoạt động sinh kế thích ứng, hoặc tránh được các tác động tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương, đồng thời bảo đảm duy trì, phát triển được các nguồn lực trong cả hiện tại và tương lai thì được coi là sinh kế bền vững. Trên cơ sở Lý thuyết khung sinh kế bền vững DFID, bài viết phân tích về mô hình sinh kế bền vững dựa trên tiềm năng tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh Đông Bắc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Những hạn chế trong thực thi chính sách bình đẳng giới về chính trị ở Việt Nam

Những hạn chế trong thực thi chính sách bình đẳng giới về chính trị ở Việt Nam

(LLCT) - Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm thực thi chính sách bình đẳng giới trong chính trị, bảo đảm cơ hội cho phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị vẫn còn nhiều thách thức. Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân khách quan và chủ quan trong quá trình thực thi chính sách, bài viết gợi mở một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế này. 

Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý

(LLCT) - Nêu gương là trách nhiệm, là đạo lý, gắn với tư cách của cán bộ, đảng viên, là phương thức lãnh đạo quan trọng, hiệu quả, vừa có giá trị khoa học và nhân văn, tác động tích cực đến các đối tượng lãnh đạo của Đảng. Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát huy vai trò lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền huyện, để cấp ủy và chính quyền huyện thực sự là nhân tố đảm bảo cho địa phương phát triển trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời góp phần nâng cao uy tín, giữ vững vị thế và vai trò cầm quyền của Đảng.

Công tác dân vận góp phần thúc đẩy sự tham gia chính trị của người dân

Công tác dân vận góp phần thúc đẩy sự tham gia chính trị của người dân

(LLCT) - Công tác dân vận có ý nghĩa quan trọng góp phần thúc đẩy sự tham gia chính trị của người dân. Trong tiến trình đổi mới sâu rộng ở nước ta hiện nay, sự tham gia chính trị của người dân trở thành thước đo sự hoàn thiện của nền dân chủ XHCN, của hệ thống chính trị ở nước ta. Bài viết tập trung làm rõ vai trò của công tác dân vận trong thúc đẩy sự tham gia chính trị của người dân, và nêu ra những giải pháp để phát huy vai trò của công tác dân vận đối với sự tham gia chính trị của người dân hiện nay.

Một số khó khăn, thách thức trong phát triển nền kinh tế số ở Việt Nam

Một số khó khăn, thách thức trong phát triển nền kinh tế số ở Việt Nam

(LLCT) - Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu: kinh tế số ở Việt Nam đến năm 2025 đạt 20% GDP, năm 2030 chiếm trên 30% GDP. Để đạt mục tiêu này, cần xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp phù hợp. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá những khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế số, bài viết nêu ra một số gợi ý nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số ở Việt Nam thời gian tới.

Đồng Tháp thực hiện Quy định về trách nhiệm nêu gương

Đồng Tháp thực hiện Quy định về trách nhiệm nêu gương

(LLCT) - Nêu gương của cán bộ, đảng viên là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng, hiệu quả của Đảng, được đề cao, đặc biệt là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Qua hơn 5 năm thực hiện Quy định số 101-QĐ/TW Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo chủ chốt các cấp, Đồng Tháp đã có sự chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong công tác xây dựng Đảng của Tỉnh. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa được chú trọng, còn hình thức, mờ nhạt... Vì vậy cần tiếp tục đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Vĩnh Phúc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Vĩnh Phúc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

(LLCT) - Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và 4 năm thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị “về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã chủ động triển khai một cách bài bản và quyết liệt việc sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bộ máy của một số cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sự tương đồng về chức năng, nhiệm vụ, không phù hợp về quy mô, hiệu quả hoạt động thấp và bước đầu đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, Vĩnh Phúc cũng đang gặp phải những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, rất cần sự quan tâm tháo gỡ của Trung ương.

Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra

Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra

(LLCT) - Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” ngày 25-10-2017 đến nay đã triển khai được hai năm. Nghị quyết đã được thể chế hóa thành nhiều văn bản do Quốc hội, Chính phủ ban hành. Quá trình thực hiện bước đầu đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt trong đổi mới, sắp xếp các cơ quan nhà nước tương đồng hoặc trùng chéo về chức năng trong hệ thống. Tuy nhiên, cũng bộc lộ những khó khăn khiến việc sắp xếp ở nhiều nơi chưa đạt hiệu quả cao. Trong thời gian tới, cần xác định đúng trọng tâm để việc thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW đạt kết quả mong muốn.

 Kết hợp phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo - Giải pháp then chốt trong thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển

Kết hợp phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo - Giải pháp then chốt trong thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển

(LLCT) - Sau 12 năm thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và 9 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá và đóng góp lớn vào công cuộc đổi mới đất nước, tạo nền tảng vững chắc cho tiến trình tiến ra biển và bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo của Tổ quốc. Bài viết đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với bảo đảm an ninh, quốc phòng và bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia qua thực hiện Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp thiết thực trong tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045.

Công nghiệp chế biến thủy sản - Tiềm năng phát triển và những vấn đề đặt ra đối với Thành phố Cần Thơ

Công nghiệp chế biến thủy sản - Tiềm năng phát triển và những vấn đề đặt ra đối với Thành phố Cần Thơ

(LLCT)  Công nghiệp chế biến thủy sản là một trong những ngành công nghiệp chủ lực của Thành phố Cần Thơ. Trong thời gian qua, ngành đã phát triển khá tốt nhờ đẩy mạnh sản xuất nguyên liệu, mở rộng diện tích nuôi trồng và gia tăng sản lượng thủy sản, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm thủy sản chế biến... Để phát huy tiềm năng, thế mạnh vốn có, trong thời gian tới, Cần Thơ cần tập trung vào giải quyết những hạn chế về trình độ khoa học công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, xây dựng quy hoạch phát triển hợp lý,...-

 

Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

(LLCT) - Hiện nay, khoảng 65% người dân Việt Nam sinh sống ở nông thôn, trong đó đại đa số là nông dân. Là nhân vật trung tâm của xã hội nông thôn, họ chính là chủ thể của mọi quá trình kinh tế - văn hóa - xã hội diễn ra tại khu vực này. CMCN 4.0 tác động mạnh mẽ đến nhận thức, phương thức lao động sản xuất, cơ cấu xã hội, môi trường sống và vai trò của nông dân. Cơ hội mà cuộc cách mạng này mang lại rất to lớn, nhưng nguy cơ, thách thức đối với người nông dân cũng không hề nhỏ. Do đó, đặt ra yêu cầu phải nâng cao trình độ mọi mặt, nâng cao thu nhập và đời sống, vị thế và vai trò của nông dân để họ có thể đứng vững trước vòng xoáy của toàn cầu hóa và CMCN 4.0.

Vấn đề an ninh và linh hoạt việc làm trong chính sách lao động và việc làm của Việt Nam

Vấn đề an ninh và linh hoạt việc làm trong chính sách lao động và việc làm của Việt Nam

(LLCT) - Tóm tắt: Nhằm góp phần nhận diện những bất cập trong chính sách lao động và việc làm ở Việt Nam từ góc nhìn mới về an ninh và linh hoạt việc làm, bài viết tập trung.à soát và đánh giá mối quan hệ giữa an ninh và linh hoạt việc làm trong nội dung các quy định hiện có về: (1) Hợp đồng lao động (HĐLĐ), giao kết và thực hiện HĐLĐ; (2) Tiền lương và các hình thức bảo hiểm (bao gồm việc tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và bảo hiểm y tế (BHYT); trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần khắc phục những hạn chế, phát huy các mặt tích cực trong chính sách lao động - việc làm hiện nay.

Một số giải pháp bảo đảm kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp xã trong giai đoạn hiện nay

Một số giải pháp bảo đảm kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp xã trong giai đoạn hiện nay

(LLCT) - Kiểm soát quyền lực đã và đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm. Từ thực tế nghiên cứu, khảo sát thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp xã vùng đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình) hiện nay cho thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, còn nhiều hạn chế bất cập cả về cơ chế chính sách đến vận hành các thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp xã. Trong đó có sự kiểm soát của cấp ủy đảng, HĐND, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đối với UBND chưa thật sự hiệu quả. Do đó, cần phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp xã từ bên trong, cũng như từ bên ngoài, và từ cấp trên, trực tiếp là cấp huyện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực từ nhân dân - chủ thể của quyền lực nhà nước.

Truyền thông xã hội và các giải pháp quản lý, phát triển

Truyền thông xã hội và các giải pháp quản lý, phát triển

(LLCT) - Truyền thông xã hội xuất hiện đã tạo ra nhiều cơ hội và lợi ích về truyền tải, tiếp nhận, chia sẻ thông tin, tri thức phục vụ các nhu cầu đa dạng của cộng đồng. Tuy nhiên, với cơ chế lan truyền thông tin có tốc độ chóng mặt, khó kiểm soát, truyền thông xã hội đã và đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với đời sống xã hội, đặc biệt trong văn hóa ứng xử, phát ngôn trên mạng xã hội. Trên cơ sở phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của truyền thông xã hội, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp tới các chủ thể như: các cá nhân, tổ chức tham gia mạng xã hội; chủ thể quản lý và hoàn thiện cơ sở pháp luật; nhà cung cấp các dịch vụ truyền thông xã hội và các cơ quan quản lý các phương tiện truyền thông...  nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của truyền thông xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho truyền thông xã hội phát triển đúng định hướng, phù hợp với văn hóa dân tộc.

Nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong việc thực hiện công tác dân số và phát triển trong giai đoạn mới

(LLCT) - Ngay sau khi Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới được ban hành, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 137/NQ-CP để thực hiện Nghị quyết số 21 về công tác dân số trong tình hình mới. Trong đó, xác định dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết, vừa lâu dài và là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Dựa vào nguồn số liệu điều tra thuộc đề tài cấp Viện năm 2019(1) với mẫu nghiên cứu là 256 cán bộ lãnh đạo, quản lý của 3 tỉnh/thành phố là: Hà Nội, Yên Bái, Nghệ An, bài viết tập trung mô tả và nhận diện nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý (LĐQL) và từ đó gợi ý một số khuyến nghị hướng đến nâng cao nhận thức của cán bộ LĐQL trong việc triển khai công tác dân số trong thời kỳ mới.

Trang 1 trong tổng số 40 trang.