Trang chủ    Nhân vật - Sự kiện    Tôn Đức Thắng - Người thực hiện xuất sắc tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
Thứ tư, 12 Tháng 2 2014 09:17
2066 Lượt xem

Tôn Đức Thắng - Người thực hiện xuất sắc tư tưởng đại đoàn kết dân tộc

(LLCT) - “Đồng chí là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(1). Bài viết làm rõ thêm người tiêu biểu nhất - đồng chí Tôn Đức Thắng - trong vận dụng thực hiện và làm phong phú tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta.
 

1. Nhà tổ chức tài năng của mặt trận đoàn kết dân tộc

Không phải ngẫu nhiên mà chính là sự lựa chọn lịch sử đối với một con người - đồng chí Tôn Đức Thắng - trong trọng trách là một nhà lãnh đạo đã liên tục hơn 30 năm trực tiếp tổ chức và lãnh đạo xây dựng, mở rộng và phát triển mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ra khỏi địa ngục trần gian Côn Đảo, đầu năm 1946, đồng chí Tôn Đức Thắng đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao nhiệm vụ xây dựng và tổ chức Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) với trọng trách là Phó Hội trưởng Hội Liên Việt nhằm mở rộng, phát triển mặt trận đoàn kết toàn dân vào các thành phần yêu nước chưa tham gia Mặt trận Việt Minh. Sự ra đời của Hội Liên Việt đã mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường lực lượng cách mạng, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng trong tình thế “ngàn cân treo đầu sợi tóc”, trước thù trong, giặc ngoài.

Sau khi Cụ Hội trưởng Huỳnh Thúc Kháng qua đời (1947), đồng chí Tôn Đức Thắng được tín nhiệm thay Cụ Huỳnh gánh vác trách nhiệm Hội trưởng Hội Liên Việt.

Từ năm 1948, Đảng ta chủ trương một dân tộc, một mặt trận đoàn kết dân tộc nhằm thống nhất các lực lượng cách mạng ở nước ta để thực hiện yêu cầu vừa kháng chiến vừa kiến quốc và tiến hành toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Đồng chí Tôn Đức Thắng được giao nhiệm vụ thực hiện quá trình thống nhất Hội Liên Việt và Mặt trận Việt Minh.

Tháng 3-1951, sau quá trình chuẩn bị và tiến hành từng bước từ cơ sở, việc thống nhất Hội Liên Việt và Mặt trận Việt Minh thành Mặt trận Liên Việt hoàn tất, đồng chí Tôn Đức Thắng trở thành Chủ tịch Mặt trận Liên Việt. Mặt trận Liên Việt ra đời trên cơ sở thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt không chỉ là bước phát triển mới về số lượng mà còn là sự phát triển về chất của mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta. Sự phát triển mới đó đã góp phần quan trọng làm thay đổi tương quan lực lượng địch - ta, để Đảng có thể chuyển cuộc kháng chiến trường kỳ sang thời đoạn mới, đi tới kết thúc cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp chính là kết quả của sự lớn mạnh không ngừng của khối đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Liên Việt dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà người trực tiếp lãnh đạo tổ chức xây dựng là đồng chí Tôn Đức Thắng.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng nước ta đứng trước tình hình mới: miền Bắc hoà bình xây dựng CNXH, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng chống xâm lược Mỹ, thống nhất đất nước. Tình hình, nhiệm vụ mới của cách mạng mỗi miền đã tác động tới sự tập hợp lực lượng của cách mạng ở nước ta: Mặt trận Liên Việt được đổi thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (9-1955), đồng chí Tôn Đức Thắng tiếp tục được tín nhiệm là Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Do tình hình, nhiệm vụ cách mạng ở hai miền Nam Bắc khác nhau, tại Đại hội III của Đảng (9-1960), đồng chí Tôn Đức Thắng đã phân tích rõ chủ trương của Đảng về việc thành lập một mặt trận đoàn kết dân tộc ở miền Nam, thực chất là mặt trận dân tộc dân chủ và đề nghị mặt trận ở miền Nam phải căn cứ vào tinh thần Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để đề ra Cương lĩnh thích hợp. Tháng 12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch đã tạo ra cơ sở chính trị mới thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ hơn.

Tại các Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II (1961), lần thứ III (1971), đồng chí Tôn Đức Thắng đều được tín nhiệm bầu là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, việc thống nhất các tổ chức mặt trận thành một tổ chức mặt trận đoàn kết dân tộc chung cho cả nước là nguyện vọng của toàn dân, là đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng nước Việt Nam thống nhất. Tháng 2-1977, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam được tiến hành đã thống nhất các tổ chức mặt trận ở nước ta thành một tổ chức mặt trận chung là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đây là bước phát triển mới của mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta, có sự đóng góp trực tiếp của đồng chí Tôn Đức Thắng. Với những cống hiến xuất sắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, mặc dù tuổi cao, đồng chí vẫn được bầu làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho tới khi qua đời (1980).

Hơn 30 năm liên tục được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng, giao nhiệm vụ, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tận tâm, tận lực giương cao ngọn cờ đại đoàn kết Hồ Chí Minh để lãnh đạo, tổ chức xây dựng và phát triển mặt trận đoàn kết toàn dân, tập hợp tất thảy các lực lượng yêu nước, phát huy cao nhất nội lực của dân tộc và đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người, phục hưng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN. Đồng chí Tôn Đức Thắng là nhà tổ chức tài năng của mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta.

2. Người làm phong phú tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh

Những thành công to lớn trong vai trò là nhà tổ chức, xây dựng và phát triển mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta là kết quả của sự vận dụng đúng đắn tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, đồng thời, xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước, trên cương vị lãnh đạo, bằng trí tuệ và tình cảm chân thành, đồng chí Tôn Đức Thắng đã góp phần làm phong phú thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

Trước hết, trong sự biến đổi và vận động không ngừng của những điều kiện lịch sử dân tộc và thời đại, đồng chí Tôn Đức Thắng đã vận dụng đúng đắn và làm phong phú tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng lực lượng cách mạng bằng xây dựng thành công mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong hoà bình xây dựng đất nước.

Trên cơ sở đó, đồng chí đã xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa nhiệm vụ phản đế và phản phong trong thực hiện xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta. Trong Diễn văn bế mạc Đại hội II của Đảng (2-1951), đồng chí Tôn Đức Thắng đã chỉ ra rằng: “Trong giai đoạn hiện tại, nhiệm vụ trung tâm, nhiệm vụ chủ yếu là đánh bại đế quốc xâm lược, hoàn thành giải phóng dân tộc. Nhưng không phải chỉ đánh bại đế quốc xâm lược mà thôi.

Trái lại, trong khi đánh bại đế quốc bên ngoài, vẫn phải thu hẹp bóc lột phong kiến, làm yếu thế lực phong kiến và phát triển chế độ dân chủ nhân dân. Phát triển chế độ dân chủ nhân dân tức là ít nhiều gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội. Song những nhiệm vụ đó đều phải phục vụ nhiệm vụ đánh bại đế quốc xâm lược.

Quan niệm cho rằng trong giai đoạn hiện tại, nhiệm vụ phản đế và phản phong kiến ngang hàng, hay kháng chiến căn bản chưa thành công hai nhiệm vụ đó đã ngang nhau là sai.

Quan niệm cho rằng trong giai đoạn này, chỉ phản đế, cách mạng một đối tượng là đế quốc xâm lược, khi nào chuyển sang giai đoạn sau mới phản phong kiến cũng sai”(2).

 Hai là, trong điều kiện cụ thể ở nước ta, việc phân tích toàn diện và cụ thể các quan hệ xã hội để làm rõ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ là cơ sở tư tưởng cho việc xác định “những điểm chung cho toàn thể dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và cho mọi tầng lớp nhân dân”[1](3)- như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói - nhằm xác định đúng đắn các chính sách phù hợp để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát triển rộng rãi nhất lực lượng cách mạng ở nước ta.

Đồng chí Tôn Đức Thắng nêu rõ những điểm chungđể tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước và dân chủ nhằm thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Liên Việt để đưa kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi là: “Đoàn kết, nhất trí giành độc lậpcho Tổ quốc, dân chủ cho nhân dân vàhoà bình cho thế giới”(4).

Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới ở nước ta trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhưng đất nước còn bị tạm thời chia làm hai miền, đồng chí Tôn Đức Thắng chỉ rõ: “Lập trường chung của chúng ta là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ.Mục đích chung của chúng ta là ích nước, lợi dân(5).

Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp còn được thể hiện ở việc xác định điểm chungtrong vấn đề xây dựng Nhà nước nhân dân dân chủ chuyên chính ở nước ta. Đồng chí khẳng định: “Hình thứcnhà nước của chúng ta là cộng hoà dân chủ nhân dân. Nội dungcủa nó là nhân dân dân chủ chuyên chính.Thực chấtcủa nhân dân dân chủ chuyên chính là công nông chuyên chính”. Nhưng theo đồng chí, “chế độ của ta không giống hệt như công nông chuyên chính. Vì công nông chuyên chính chỉ có công, nông và tiểu tư sản tham chính, còn nhân dân dân chủ chuyên chính gồm tất cả các giai cấp trong nhân dân: công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những thân sĩ yêu nước và tiến bộ cùng tham chính. Nếu nói là công nông chuyên chính thì hẹp hòi và không đúng”(6).

Bên cạnh những điểm chung cho toàn dân tộc, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc còn thể hiện ở những điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và cho mọi tầng lớp nhân dân. Đây là cơ sở cho việc hoạch định chính sách đối với các giai tầng nhằm bảo đảm sự đoàn kết bền vững, lâu dài phấn đấu vì lợi ích chung của toàn dân tộc. Lý giải vấn đề này, đồng chí Tôn Đức Thắng khẳng định: “Chính sách Mặt trận của ta là chính sách liên minh giai cấp để kháng chiến, không phải liên minh giai cấp suông, mà là liên minh giai cấp để kháng chiến. Đã là liên minh giai cấp để kháng chiến thì những mâu thuẫn, quyền lợi giữa các giai cấp phải được điều giải hợp lý. Nhưng bao giờ chúng ta cũng đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của quần chúng cần lao và đông đảo là vì họ là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất, là lực lượng chủ yếu của kháng chiến”(7). Quan điểm trên được thể hiện cụ thể trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ, mà theo đồng chí Tôn Đức Thắng, phải được thực hiện dần dần, có “hạn độ” theo sự phát triển của cách mạng, bởi vì, “Hạn độ đó tức là đảm bảo chính sách đoàn kết toàn dân, kháng chiến trường kỳ”(8).

Nhấn mạnh sự liên minh giai cấp trong mặt trận, nhưng đồng chí Tôn Đức Thắng cũng lưu ý rằng, trong sự tập hợp rộng rãi đó, “Cần phải luôn luôn tăng cường liên minh công nông để tranh thủ các tầng lớp nhân dân khác. Nếu không như thế thì việc tranh thủ các tầng lớp trên sẽ gặp khó khăn; hoặc có tranh thủ được, Mặt trận cũng không có cơ sở vững chắc”(9).

Ba là, Đảng đề ra đường lối cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng con người Việt Nam. Đường lối đúng đắn đó đồng thời cũng là chiến lược xây dựng lực lượng cách mạng, là chiến lược đoàn kết toàn dân trong một Mặt trận thống nhất do Đảng tổ chức và lãnh đạo nhằm thực hiện thành công các mục tiêu cách mạng. Do vậy, tổ chức lực lượng cách mạng bằng xây dựng Mặt trận đoàn kết dân tộc là chiến lược hàng đầu quyết định tới thành công trong thực hiện các nhiệm vụ cách mạng ở nước ta. Đồng chí Tôn Đức Thắng chỉ ra rằng: “Hễ địa phương nào, bộ phận công tác nào làm tốt công tác mặt trận, thì các công tác khác được tiến hành thuận lợi. Ngược lại, nơi nào làm khác thì không tránh khỏi sẽ gặp khó khăn. Bởi vậy, không phải như một số đồng chí hiểu lầm rằng công tác mặt trận do ngành mặt trận chuyên trách, mà trái lại, toàn Đảng phải chăm lo”(10). Vì vậy, đồng chí khẳng định, trong khi làm công tác Mặt trận, cần chú ý “nêu cao sự lãnh đạo của Đảng. Quyền lãnh đạo của Đảng quyết không thể chia sẻ cho ai, quyết không thể làm lu mờ được”(11).

Để xây dựng Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng chí Tôn Đức Thắng chỉ rõ vấn đề hàng đầu là phải đoàn kết từ trong nội bộ Đảng vì “có đoàn kết nội bộ thì việc thi hành phương châm, chính sách mới thống nhất, nhịp nhàng”. Sự đoàn kết đó không chỉ là sự thống nhất hành động, thống nhất tư tưởng trong việc thực hiện chính sách của Đảng mà còn là tình cảm tôn trọng, yêu mến, giúp đỡ, lo toan cho nhau giữa những người đảng viên cộng sản. Đồng chí cho rằng “phương pháp duy nhất giúp ta thành tựu ý muốn ấy là tự chỉ trích và thân ái chỉ trích bạn mình”(12).

Mặt khác, đồng chí yêu cầu “Đảng ta cần phải liên hệ tốt với quần chúng, cần phải đoàn kết chung quanh Đảng các giai cấp, các tầng lớp nhân dân cách mạng, hiểu rõ chỉ có tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng và đoàn kết chung quanh Đảng, mới giành được thắng lợi”(13). Và để Mặt trận - một tổ chức liên minh chính trị của các giai tầng, tổ chức, cá nhân trong xã hội- hoạt động có hiệu quả, cùng với việc đề ra đường lối, chính sách đúng, Đảng phải có phương thức, lề lối làm việc dân chủ để mọi thành viên trong Mặt trận đều được bàn bạc nhất trí nhằm thống nhất hành động chung. Đồng chí Tôn Đức Thắng chỉ rõ: “Về lề lối làm việc trong các Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,... đối với những công việc chung, chúng ta cần bàn bạc dân chủ với người ngoài Đảng, lắng nghe ý kiến của họ. Ý kiến đúng chúng ta hoan nghênh, ý kiến sai chúng ta giải thích và chúng ta thực hiện phương pháp thân ái, tự phê bình trong nội bộ Mặt trận”(14). Đồng chí đã chỉ ra rằng “đối với bạn đồng minh, phải vừa đoàn kết, đoàn kết để giữ vững mặt trận cách mạng, đấu tranh để đi đến đoàn kết cao hơn, không thể đoàn kết một chiều, thủ tiêu đấu tranh, cũng không thể đấu tranh vô nguyên tắc ảnh hưởng đến đoàn kết”[(15). Song, đồng chí cũng lưu ý nên “tiến hành đấu tranh trong nội bộ mặt trận một cách có lợi, có lý, có chừng mực, để chĩa mũi nhọn vào bọn đế quốc xâm lược”(16).

Đó cũng chính là tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh được đồng chí Tôn Đức Thắng vận dụng và làm phong phú thêm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển Mặt trận đoàn kết dân tộc trong các giai đoạn cách mạng khác nhau ở nước ta.

3. Tấm gương về nhà lãnh đạo đoàn kết dân tộc

Hơn 30 năm hoàn thành trọng trách của một nhà lãnh đạo hàng đầu trong tổ chức xây dựng và lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta, bằng tài năng tổ chức, năng lực trí tuệ và tấm gương đạo đức cách mạng, đồng chí Tôn Đức Thắng đã giành được sự kính trọng và tin cậy của các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Đồng chí là tấm gương của “một nhà yêu nước vĩ đại, người cộng sản kiên cường mẫu mực, người lãnh đạo quý mến của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc nước ta, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh” đã hiến dâng trọn đời tranh đấu cho độc lập của dân tộc, cho nhân dân tự do và phấn đấu vì hạnh phúc của mỗi con ngư­ời Việt Nam.

Đó là tấm gương về sự tận tuỵ với nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết của dân tộc, vì mục tiêu lý t­ưởng của Đảng của một người mà cuộc đời là tấm gương cần kiệm cho nước, cho dân và trong cả cuộc sống sinh hoạt thường ngày.

Đó là tấm gương của một người thực hành đạo đức, khiêm tốn, giản dị, liêm khiết, trong sạch, ngay thẳng, chân thành; nói ít làm nhiều; luôn chí công vô tư và đặt lợi ích của Đảng, của dân lên trên hết, trước hết; ghét thói xu nịnh, cơ hội chủ nghĩa, bè phái.

Từ chốn lao tù đến khi giữ những trọng trách của Đảng và Nhà nước, Đồng chí luôn dành tất cả tình cảm cho đồng bào, đồng chí và sẵn lòng chia sẻ những khó khăn với tất cả mọi người. Đó là lòng nhân ái và tinh thần khoan dung của một người mang sẵn trong mình những tố chất của một nhà tổ chức và lãnh đạo đoàn kết dân tộc, một người cộng sản kiểu Hồ Chí Minh: “hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có nghĩa có tình”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”(17).

Là người tiêu biểu nhấtthực hiện tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, đồng chí Tôn Đức Thắng đã hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc vì độc lập của dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH, tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí gắn liền với những thắng lợi vĩ đại của cách mạng nước ta, mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc trong thế kỷ XX.

Học tập đồng chí Tôn Đức Thắng, những người cộng sản luôn nhớ di huấn của đồng chí: “Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch; sự học tập ấy là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”(18)

_______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2013

(1) Trường Chinh: Điếu văn đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Tôn Đức Thắng, báo Nhân dân,số ra ngày 4-4-1980.

(2), (4), (6), (7), (8), (9), (11), (12), (13), (14), (16), (18) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập,t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.485-486, 486, 488, 487, 487, 277,  277, 276, 276, 448, 9.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập,t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.158.

(5) Sở Văn hoá thông tin An Giang: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980), An Giang, 1988, tr.244.

(10)“Chủ tịch Tôn Đức Thắng nói về công tác mặt trận”,báo Nhân Dân, số 9428, ngày 5-4-1980.

(15) Tôn Đức Thắng:Về Mặt trận thống nhất dân tộc,Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.21-22,

(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập,t.9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.221.

 

PGS, TS Phạm Hồng Chương

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh