Trang chủ    Ảnh chính    Phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2020: Định hướng và giải pháp
Thứ hai, 10 Tháng 7 2017 16:57
5644 Lượt xem

Phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2020: Định hướng và giải pháp

(LLCT) - Việt Nam đã bước qua chặng đường 30 năm đổi mới với nhiều thành tựu phát triển to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thực tiễn đó đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, sáng tạo; đồng thời tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong những năm tới. Trên tiền đề đó, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 (Kế hoạch 2016-2020) nhấn mạnh mục tiêu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước; đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh; phấn đấu sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

1. Những tiền đề của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020

Việt Nam bước vào thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 (Kế hoạch 2011-2015) trong thời kỳ có nhiều biến động, khó khăn ở trong và ngoài nước. Nền kinh tế thế giới trì trệ do hệ luỵ kéo dài của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, ảnh hưởng đến các đối tác thương mại, đầu tư chủ chốt của Việt Nam. Nhiều yếu kém nội tại của nền kinh tế Việt Nam bắt đầu bộc lộ và gây ra những tác động tiêu cực nặng nề: lạm phát tăng cao, kinh tế vĩ mô không ổn định, sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Do vậy, ngay trong năm 2011, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI đã kịp thời điều chỉnh nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, trong đó tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Đặc biệt, Hội nghị đã xác định mục tiêu duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược(1), cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng chiều sâu, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Đây là điều chỉnh hết sức quan trọng và phù hợp, mở ra quỹ đạo phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam.

Với việc quyết liệt thực hiện và đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, Việt Nam đã hoàn thành Kế hoạch 2011-2015 một cách ấn tượng. Kinh tế vĩ mô cơ bản được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế từng bước phục hồi rõ nét, năm sau cao hơn năm trước, chất lượng tăng trưởng tăng lên. Nỗ lực thực hiện ba đột phá chiến lược đã giúp cải thiện đáng kể môi trường đầu tư, kinh doanh. Tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt được những kết quả ban đầu trên các mặt như: cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tài chính, tín dụng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty; cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; cơ cấu lại công nghiệp, dịch vụ và điều chỉnh quy hoạch phát triển vùng. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đạt nhiều bước tiến tích cực với việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Đây là động lực khuyến khích cho việc xây dựng và thực hiện trong những năm đầu của Kế hoạch 2016-2020.

Tuy nhiên, do chưa lường trước được hết những khó khăn, thách thức nên Việt Nam đã không đạt được một số mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2011-2015. Việc tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt yêu cầu. Ổn định kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc; tăng trưởng kinh tế thấp hơn chỉ tiêu đề ra; năng suất nhiều ngành, nhiều lĩnh vực còn thấp; năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện nhiều. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN còn nhiều vướng mắc, chưa tạo được đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Việc thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm so với dự kiến. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nhiều mặt còn hạn chế.

Trong bối cảnh đó, Đại hội XII của Đảng đã đề ra bốn quan điểm phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 là: i)Tiếp tục đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế-xã hội; ii)Bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; iii)Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và định hướng phát triển của Nhà nước; và iv)Phát huy cao nhất các nguồn lực trong nước, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế(2).

Dựa trên các quan điểm chỉ đạo này, Kế hoạch 2016-2020 đã đề ra những chỉ tiêu phát triển về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường cho giai đoạn 2016-2020(3); đồng thời đưa ra 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trong 10 nhóm giải pháp này, có những nhóm giải pháp vừa mang tính chất căn cốt, nền tảng, vừa mang tính chất đột phá, như: về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đã nhấn mạnh việc tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, nâng cao phúc lợi và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân(4); đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, trong đó có việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, làm động lực nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế(5); và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế,trong đó có việc thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế và chủ động, tích cực đàm phán, ký kết các FTA thế hệ mới, khai thác tối đa các cơ hội, hạn chế thấp nhất các tác động tiêu cực để mở rộng thị trường, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho phát triển(6).

2. Bối cảnh mới và những yêu cầu đặt ra

Qua gần một năm bước vào thực hiện Kế hoạch 2016-2020, bên cạnh nhiều kết quả tích cực đạt được, nền kinh tế Việt Nam vẫn phải đối mặt với những yếu kém, trong đó gồm cả một số vấn đề xuất hiện từ giai đoạn trước, nay bắt đầu bộc lộ rõ hơn.

Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế Việt Nam về cơ bản vẫn theo mô hình cũ, chậm được đổi mới, chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và số lượng lao động, chưa dựa nhiều vào tăng năng suất lao động, ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Phương thức phân bổ nguồn lực xã hội chưa có sự thay đổi rõ rệt. Việc thực hiện ba đột phá chiến lược chưa đạt mục tiêu đề ra(7).

Sau một thời gian có đà phục hồi, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đang có xu hướng chậm lại. Trong khi đó, ổn định kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc để tạo lập môi trường thuận lợi tiến hành những cải cách, điều chỉnh giúp nền kinh tế phát triển nhanh hơn. Tình trạng thâm hụt ngân sách và nợ công tích tụ đang tạo ra những rủi ro đáng kể. Nợ công của Việt Nam hiện ở mức cao và đã vượt trần mục tiêu. Tổng thu ngân sách nhà nước không đáp ứng đủ nhu cầu chi thường xuyên và chi trả nợ khiến toàn bộ chi đầu tư phải dựa vào nguồn vay nợ của Chính phủ. Cân đối cán cân thương mại cũng chưa được đảm bảo. Trong những năm gần đây, cán cân thương mại thặng dư khi nền kinh tế tăng trưởng thấp, song lại chuyển sang thâm hụt khi tăng trưởng kinh tế phục hồi. Mặc dù lãi suất đang có xu hướng giảm song các điều kiện cho vay vẫn chưa thực sự được nới lỏng khiến việc tiếp cận vốn của nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn.

Nền kinh tế Việt Nam đang là một nền kinh tế “đa tốc độ”với kết quả vượt trội của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).Doanh nghiệp FDI ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xuất, nhập khẩu(8): trong khi khu vực FDI xuất siêu thì khu vực trong nước luôn ở trong trạng thái nhập siêu. Sự áp đảo của khu vực FDI cũng là tín hiệu cho thấy sự yếu kém của khu vực trong nước.

Với khoảng 65% dân số sống ở nông thôn và 42% lực lượng lao động trong nông nghiệp(9), khu vực nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp, nông thôn đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn, tiềm ẩn những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp. Cơ cấu lại nông nghiệp chưa thực sự gắn với xây dựng nông thôn mới. Nhiều chính sách “cởi trói” giúp nông nghiệp, nông thôn phát triển trong thời kỳ sau đổi mới đã tới giới hạn. Mô hình kinh tế hộ truyền thống tồn tại lâu nay ở nông thôn không còn phù hợp với điều kiện mới, trong khi việc triển khai những mô hình hiện đại nhưkinh tế trang trại quy mô lớn, liên kết nông dân với doanh nghiệp... vẫn gặp nhiều rào cản. Hơn nữa, biến đổi khí hậu và tình hình thời tiết diễn biến phức tạp đang tác động ngày càng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp.

Vấn đề môi trường cũng đặt ra nhiều thách thức lớn đối với nỗ lực phát triển bền vững của Việt Nam. Mức độ nghiêm trọng cũng như tần suất xuất hiện gia tăng của các vụ việc ô nhiễm môi trường gần đây phản ánh sự lỏng lẻo trong công tác quản lý môi trường, nhất là tại các địa phương. Chi phí mà xã hội phải gánh chịu do các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường đang tăng cao. Lợi ích từ hoạt động kinh tế về trung và dài hạn không bù đắp nổi chi phí quá lớn về môi trường và các tác động tiêu cực đến sinh kế của người dân.

Cùng với những vấn đề nói trên, Việt Nam đang và sẽ chịu tác động mạnh mẽ hơn của hai xu thế phát triển lớn ở bên ngoài.

Một là,tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh. Sự đan xen của các quá trình hội nhập đa phương và song phương đưa thế giới đến một “cấu trúc ma trận” các FTA trên nhiều tuyến và nhiều cấp độ, trong đó phải kể đến các FTA thế hệ mới. Quốc gia nào trở thành tâm điểm, đầu mối của các FTA này sẽ có nhiều cơ hội phát triển, đóng vai trò quan trọng hơn trong hệ thống kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, sức ép điều chỉnh chính sách theo nhiều kênh, nhiều tuyến tạo ra tác động nhiều chiều, khó đối phó và kiểm soát. Hơn nữa, bản thân các FTA không đủ để giúp Việt Nam hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của mình. Mặc dù giúp tiếp cận tốt hơn thị trường của các đối tác, gia tăng khối lượng thương mại và đầu tư trong ngắn hạn, nhưng các FTA vẫn không bảo đảm được nền kinh tế Việt Nam có thể vượt lên khỏi phân khúc thấp của chuỗi giá trị toàn cầu hay đem lại nhiều việc làm có năng suất cao hơn bởi những điều này chủ yếu phụ thuộc vào tiến độ cải cách trong nước. Trong xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt, thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam đã trở nên hiện hữu trong khi cơ hội mà hội nhập đem lại mới chỉ ở dạng tiềm năng.

Hai là,cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra nhanh chóng, đặc biệt với những đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, robots, internet kết nối vạn vật, công nghệ in 3 chiều, công nghệ nano, công nghệ sinh học, lưu trữ năng lượng... đem đến sự thay đổi vượt bậc cho chất lượng cuộc sống, việc làm và sản xuất, kinh doanh. Xu thế đổi mới công nghệ diễn ra với tốc độ rất nhanh đặt ra nhiều vấn đề về mô hình phát triển và con đường “đi tắt, đón đầu” của các nước. Bước chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức và tầm quan trọng của tiến bộ khoa học - công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hoá đưa đến ba cách tiếp cận phát triển mới: lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh thuộc về những ngành dựa trên tri thức và công nghệ cao; nguồn lực phát triển quan trọng nhất là tri thức và trí tuệ con người; và tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu tạo cho các nước và các nhà sản xuất có được cơ hội phát triển hiệu quả nhất. Đây là thách thức rất lớn đối với nền kinh tế Việt Nam khi quá trình CNH, HĐH vẫn theo chiều rộng, dựa vào lao động kỹ năng thấp và tài nguyên thiên nhiên. Giai đoạn vừa qua, mô hình này đãtạo ra nhiều việc làm và tạo thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư, nhưng nếu tiếp tục duy trì thì càng hội nhập sâu hơn, nền kinh tế Việt Nam sẽ càng lệ thuộc vào bên ngoài, càng có nguy cơ rơi vào “bẫy gia công, lắp ráp” và vướng vào những nấc thang thấp của chuỗi giá trị toàn cầu. Hơn nữa, với việc ứng dụng các công nghệ mới như robots, các quá trình sản xuất thâm dụng lao động sẽ dịch chuyển trở về những nước phát triển; nhờ chi phí giảm mạnh hơn, những nước này sẽ có lợi thế xuất khẩu ngược hàng hóa sang Việt Nam. Nếu không hoá giải được thách thức này, các FTA thế hệ mới như TPP có nguy cơ trở thành “bẫy hội nhập” cho quá trình phát triển của Việt Nam trong thời gian tới.

3. Một số định hướng và giải pháp thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020

Dựa trên lý thuyết về các giai đoạn phát triển và phân tích thực nghiệm số liệu của nhiều quốc gia, Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầucủa Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã chỉ ra ba giai đoạn phát triển tăng dần dựa trên các phương thức phát triển khác nhau:  

- Giai đoạn đầu tiênlà giai đoạn phát triển dựa vào gia tăng nguồn lực, chủ yếu là lao động có kỹ năng thấp và tài nguyên thiên nhiên. Các nước nằm trong giai đoạn này có thu nhập bình quân đầu người nhỏ hơn 2.000USD.

- Giai đoạn thứ hailà giai đoạn phát triển dựa vào nâng cao hiệu quả, khi các yếu tố như: giáo dục và đào tạo ở cấp sau phổ thông; thị trường hàng hóa hiệu quả; thị trường lao động hiệu quả; thị trường tài chính phát triển; năng lực áp dụng công nghệ sẵn có; thị trường trong nước và quốc tế rộng lớn, đóng vai trò hết sức quan trọng. Các nước nằm trong giai đoạn này có mức thu nhập bình quân đầu người trong khoảng 3.000 - 8.999USD.

- Giai đoạn thứ balà giai đoạn phát triển dựa vào đổi mới sáng tạo, khi các yếu tố như: sản xuất được các sản phẩm khác biệt và sáng tạo ra những sản phẩm và công nghệ mới, đóng vai trò quan trọng. Các nước nằm trong giai đoạn này có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn 17.000USD(10).

Với mức thu nhập bình quân đầu người đạt 2.054 USD vào năm 2014, Việt Nam đã bước vào quá trình chuyển đổi từ giai đoạn thứ nhất (tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa trên gia tăng huy động và sử dụng nguồn lực) để dần tiến sang giai đoạn thứ hai (tăng trưởng chủ yếu dựa trên gia tăng hiệu quả).Trong thời kỳ đầu của quỹ đạo phát triển mới này, Việt Nam vẫn cần tiếp tục khai thác các dư địa còn lại của mô hình tăng trưởng cũ chủ yếu dựa vào việc gia tăng huy động và sử dụng các nguồn lực, song phải chú trọng nhiều hơn đến việc nâng cao hiệu quả của quá trình này. Tuy nhiên, những điều này là không đủ để giúp nền kinh tế Việt Nam tiến xa như khát vọng bởi các nguồn lực như vốn, tài nguyên và lao động chỉ có hạn. Vì thế, giai đoạn tới phải ươm mầm cho sự chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên nền tảng là công nghệ và đổi mới sáng tạo - là những yếu tố không có trần giới hạn(11).

Trước những thay đổi có tính bước ngoặt đó, ngay sau Đại hội XII, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã ban hành hai nghị quyết quan trọng liên quan đến hai vấn đề then chốt, song hành và xuyên suốt trong giai đoạn tới, là: Nghị quyết số 05-NQ-TW về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tếvà Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.Trong các chủ trương, định hướng giải pháp lớn của hai nghị quyết này, có thể thấy một số điểm then chốt cần nhấn mạnh sau:

Một là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đây là vấn đề căn cốt của quá trình cải cách thể chế kinh tế, giúp đem lại động lực phát triển mới của Việt Nam trong giai đoạn tới. Thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập là biện pháp hàng đầu để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, phục hồi tăng trưởng, từ đó là tiền đề thực hiện mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội. Tiến trình hội nhập quốc tế sâu, rộng đã đưa nền kinh tế Việt Nam trở thành một bộ phận hữu cơ, không thể tách biệt của nền kinh tế thị trường thế giới. Trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết thực hiện và đáp ứng các tiêu chí để được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ vào năm 2018; trong số đó, có những tiêu chí phổ biến của một nền kinh tế thị trường hiện đại như: không phân biệt đối xử; tính minh bạch của chính sách; đảm bảo cạnh tranh lành mạnh; thúc đẩy phát triển và cải cách kinh tế, tạo điều kiện cho Chính phủ khắc phục các khuyết tật của thị trường(12)... Tiến trình cải cách kinh tế trong nước phải nhằm đảm bảo những tiêu chí này để đồng bộ với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.Những cam kết trong nhiều FTA với các nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới, vừa đặt ra yêu cầu, vừa tạo lập khuôn khổ chung để nền kinh tế Việt Nam tiến hành cải cách, chuyển đổi, đáp ứng những chuẩn mực của kinh tế thị trường thế giới.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước

Từ tinh thần các nghị quyết của Đảng, phải thấy được rằng, vấn đề này được đặt ra cùng với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN để giải quyết hiệu quả, triệt để những vấn đề cấp bách của nền kinh tế và đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Định hướng cải cách thời gian tới là Nhà nước phải chuyển mạnh từ vai trò can thiệp trực tiếp sang quản lý và phục vụ phát triển(13), trong đó chú trọng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập các cơ hội kinh doanh và khởi nghiệp; thiết lập khuôn khổ pháp luật, chính sách và bộ máy thực thi  nhằm đảm bảo các loại thị trường liên tục được hoàn thiện. Việc phân bổ các nguồn lực của Nhà nước phải theo các tín hiệu tích cực của thị trường, đảm bảo sự minh bạch và có hiệu quả. Luận điểm này đặt ra yêu cầu phải đoạn tuyệt dứt khoát với cơ chế bao cấp, “xin - cho”; là định hướng quan trọng để xử lý các vấn đề về đầu tư dàn trải, lãng phí và kém hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực phát triển của Nhà nước và xã hội(14). Cần áp dụng mạnh mẽ chính phủ điện tử ở mọi lĩnh vực để giảm thiểu và hiện đại hóa thủ tục hành chính, hạn chế tham nhũng, tăng cường tính minh bạch trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, góp phần xây dựng một chính phủ liêm chính;đồng thời cần cung cấp hỗ trợ kỹ thuật phù hợp cho những người có thu nhập thấp để họ có thể tiếp cận công cụ này, qua đó cải thiện sự tham gia của họ vào đời sống kinh tế - xã hội.

Ba là, phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân

Vấn đề này trở nên nổi bật trong giai đoạn 2011-2015 và được đặt ra một cách quyết liệt kể từ sau Đại hội XII của Đảng. Nghị quyết số 05-NQ/TW một lần nữa nhấn mạnh: “phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”(15). Việt Nam có nhiều doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ nhưng rất ít doanh nghiệp vừa và lớn. Mối liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp FDI còn yếu kém. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng, chưa đáp ứng được các điều kiện khắt khe để tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Do thiếu mối liên kết chặt chẽ, hiệu ứng lan tỏa, nhất là lan toả về công nghệ, từ khu vực FDI sang khu vực trong nước rất hạn chế. Vì vậy, cần có các chính sách giúptăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và khu vực nước ngoài sử dụng nhiều công nghệ. Để kết nối được với các tập đoàn đa quốc gia (TNC), trước mắt Việt Nam cần thúc đẩy các hoạt động phát triển công nghệ tầm trung phù hợp với trình độ phát triển hiện tại, như: thiết lập các cụm liên kết ngành sản xuất linh kiện đòi hỏi quy mô đầu tư vốn vừa phải và độ tinh vi công nghệ ở mức trung bình. Việt Nam cũng cần nắm bắt được làn sóng khởi nghiệp của các doanh nghiệp công nghệ và thúc đẩy các hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm giúp các doanh nhân vượt qua rào cản về vốn, rủi ro, nguồn nhân lực... để hiện thực hóa các ý tưởng của mình liên quan đến công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bốn là, khuyến khích áp dụng công nghệ và nuôi dưỡng đổi mới sáng tạo

Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với lộ trình “đi tắt, đón đầu” của nền kinh tế Việt Nam. Trước những đột phá nhanh chóng về công nghệ trên thế giới, Việt Nam cần chú trọng vào việc tăng khả năng hấp thụ công nghệ và nuôi dưỡng đổi mới sáng tạo bằng cách phát triển các hệ thống kết cấu hạ tầng xương sống để đảm bảo tính kết nối và sẵn sàng công nghệ. Quy hoạch chiến lược trong những năm tới cần ưu tiên đối với công nghệ thông tin,
Internet, truyền thông, hậu cần,... xây dựng các trung tâm kiểm định, hệ thống thương hiệu và cấp chứng chỉ sản phẩm,... Ngoài ra,bản chất “rủi ro cao, lợi nhuận cao” của phát triển và áp dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo yêu cầu phải thiết lập các thể chế vốn đầu tư mạo hiểm. Kinh nghiệm các nước Đông Á cho thấy cần thiết kế một chính sách công nghiệp để đạt được mục tiêu này. Một chính sách công nghiệp phù hợp cần phải gắn kết Chính phủ và khu vực tư nhân để cùng xác định vấn đề, cơ hội và các giải pháp phù hợp nhằm khuyến khích tăng năng suất ở các phân ngành và doanh nghiệp có nhiều tiềm năng phát triển.

Năm là, đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

Tầm quan trọng và tính nhạy cảm của khu vực nông nghiệp, nông thôn khiến vấn đề này tiếp tục chiếm vị trí trung tâm trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn tới. Nghị quyết số 05-NQ/TW đã chỉ rõ, muốn tạo đột phá phát triển, phải thoát ra khỏi tư duy của nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, chuyển mạnh từ chỗ sản xuất lấy số lượng làm mục tiêu sang chú trọng chất lượng, giá trị và hiệu quả(16), chuyển từ mô hình sản xuất nông nghiệp khép kín, nhỏ lẻ, thiếu liên kết, chủ yếu ở quy mô hộ gia đình sang mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn,dựa vào doanh nghiệp và trang trại,hoạt động theo cơ chế thị trường và đủ sức cạnh tranh trong hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh liên kết nông nghiệp - công nghiệp; xây dựng các cụm nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ. Đặc biệt, cần chú trọng vai trò của công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ xanh và công nghệ sạch, trong việc nâng cao chất lượng và giá trị của các sản phẩm nông nghiệp. Cầngiải quyết một số điểm nghẽn như các vấn đề về kết cấu hạ tầng, tích tụ đất đai, phát triển nguồn nhân lực, hợp đồng sản xuất... thông qua những thay đổi chính sách, hoạt động đầu tư của cả khu vực nhà nước và tư nhân. Để làm được điều này, cần có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước, đặc biệt là chính quyền địa phương với doanh nghiệp, nhà khoa học và người nông dân để giúp tháo gỡ, xử lý những khó khăn mà tự người nông dân khó làm được(17).

Sáu là, phát triển nguồn nhân lực cho đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đã được nhận thức rõ là một trong ba đột phá chiến lược và có vai trò ngày càng quan trọng trong bối cảnh mới. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, trong thời gian qua giáo dục đại học ở Việt Nam quá chú trọng đến các ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng... khiến nhu cầu học các ngành này rất cao và học sinh rời xa các ngành khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, nhu cầu tuyển dụng lao động đối với một số ngành thuộc nhóm công nghệ, kỹ thuật, cơ khí và các ngành liên quan đến toán học (STEM) ngày càng lớn, nhất là khi các TNC với công nghệ tiên phong đang đầu tư mạnh và đặt các trung tâm nghiên cứu và triển khai (R&D) tại Việt Nam. Bởi vậy, cần đổi mới căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo, trong đó gắn giáo dục - đào tạo với hoạt động thực tiễn, đề cao tinh thần làm chủ, thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp, có định hướng rõ rệt ưu tiên về chính sách và các nguồn lực cho các ngành STEM. Trước mắt, Việt Nam cần có những trường đại học kỹ thuật và công nghệ có đẳng cấp, đào tạo ra các sinh viên có chất lượng nhằm nâng cao khả năng kết nối với khu vực FDI, qua đó tạo ra hiệu ứng lan tỏa và nâng cao khả năng hấp thụ công nghệ mới của nền kinh tế. Điều này phù hợp với xu hướng chung của thế giới, giúp Việt Nam ngày càng nâng cao vị thế đối với các doanh nghiệp và nhà đầu tư quốc tế, để trở thành một điểm đầu tư hấp dẫn. Kinh nghiệm của các quốc gia đi trước cho thấy, cần tạo dựng văn hóa sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp cho giới trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hình thành ý chí tự thân lập nghiệp, giúp giới trẻ có năng lực sáng tạo để sẵn sàng cho tương lai.

Bảy là, thúc đẩy tăng trưởng bao trùm, tạo sự bình đẳng trong cơ hội phát triển đối với mọi người dân

Để thấy được ý nghĩa của định hướng phát triển quan trọng này, trước hết phải nhấn mạnh thuộc tính nhân văn và đặc trưng riêng có của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam, đó là: vì lợi ích của đại đa số nhân dân, hướng vào con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển, mọi người được tham gia và mọi người được hưởng lợi.Do vậy, bên cạnh việc thiết lập nền tảng cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, tạo ra những việc làm có năng suất và thu nhập cao, Việt Nam cần thực hiện những chính sách đặc thù như tạo điều kiện để phát triển các ngành tạo việc làm và sinh kế cho những người lao động ít kỹ năng và dễ bị tổn thương; mở rộng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội để nâng cao khả năng tiếp cận của người dân đến các dịch vụ xã hội quan trọng(18); quan tâm và hỗ trợ người nghèo, những nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương, đặc biệt trong quá trình hội nhập quốc tế(19). Đặc biệt, cần nâng cao chất lượng dịch vụ và kết cấu hạ tầng nông thôn, miền núi để thu hẹp khoảng cách về cơ hội phát triển giữa các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn, giữa các nhóm cư dân nông thôn, giữ người dân ở lại nông thôn, giải tỏa sức ép đối với khu vực đô thị.

Tám là, tăng cường bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu

Đây không phải là một vấn đề mới được đặt ra nhưng lại đang trở nên rất cấp bách hiện nay và trong giai đoạn tới. Việt Nam đã xây dựng và ban hành nhiều chiến lược và chính sách liên quan đến bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trước những vụ việc ô nhiễm môi trường nghiêm trọng diễn ra vừa qua, Việt Nam cần một tinh thần quyết liệt, mạnh mẽ hơn trong việc thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường. Đặc biệt, cần tập trung vào các nhóm biện pháp cụ thể như: i) thiết lập các tiêu chí môi trường theo tiêu chuẩn cao hơn; ii)tăng cường giám sát môi trường tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất có khả năng gây ô nhiễm, quy trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý và giám sát môi trường; iii)tăng chế tài đối với các doanh nghiệp gây ô nhiễm; và iv)tăng tính độc lập và minh bạch trong quá trình phê duyệt đánh giá tác động môi trường. Ngoài ra, biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam, thể hiện rất rõ trong thời gian gần đây như tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt gia tăng... Từ những vấn đề xảy ra, cần nhanh chóng tính đến những biện pháp cụ thể nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, bao gồm sự điều chỉnh trong đời sống, sản xuất, canh tác nông nghiệp ở những địa phương bị tác động nặng bởi biến đổi khí hậu; cần điều chỉnh và có kế hoạch sử dụng nguồn nước phù hợp với mùa vụ hơn nữa.

Với tinh thần quyết liệt vì phát triển, nỗ lực đẩy mạnh cải cách, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng,chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, Việt Nam đang tiến vào một quỹ đạo tăng trưởng mới, với những động lực phát triển mới để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 12-2016

(1) gồm: i)hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); ii)phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ; và iii)xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.

(2), (3), (4), (5), (6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.269-271,  272-273,  273-280,  280-293, 313-315.

(7), (13), (15), (16) ĐCSVN:Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 05-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

(8) Tỷ trọng xuất nhập khẩu từ khu vực nước ngoài gia tăng liên tục, từ 33,9% tổng trị giá xuất khẩu năm 2002 lên đến 70,9% năm 2015 và từ 47% tổng trị giá nhập khẩu năm 2002 lên 59,2% năm 2015.

(9) Tổng Cục thống kê: Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2016, Hà Nội, 2016.

(10)WEF (2016). Global Competitiveness Report 2016-2016, Geneva.

(11) Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Báo cáo chính sách tháng 12-2016, Hà Nội, 2014.

(12), (14) Nguyễn Xuân Thắng: “Một số luận điểm mới về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Kinh tế và Quản lý, số 9-2016, tr.6.

(17) Nguyễn Xuân Thắng: “Nông nghiệp thông minh và một số kiến nghị về hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo “Các giải pháp tăng trưởng xanh”, Báo Nhân dân, tháng 9-2015, Hà Nội.

(18) Nguyễn Xuân Thắng: “Tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội”, Việt Nam trên đường phát triển, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2015.

(19) Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Báo cáo tổng kết 30 năm Đổi mới về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, Hà Nội, 2014.

 

GS, TS Nguyễn Xuân Thắng

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

                                                                                        

Các bài viết khác