Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Phát huy nguồn lực lao động cho quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam
Thứ năm, 29 Tháng 11 2018 11:14
50 Lượt xem

Phát huy nguồn lực lao động cho quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam

(LLCT) - Trải qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta đã có sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy kinh tế. Nhận thức về nguồn lực và cơ chế phân bổ nguồn lực nói chung; nguồn lực lao động và phát huy nguồn lực lao động nói riêng trong đổi mới mô hình tăng trưởng cũng có sự thay đổi và phát triển. Từ quan niệm nhà nước là chủ thể duy nhất phân bổ tất cả nguồn lực của nền kinh tế, trong đó có nguồn lực lao động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thì nay cơ chế thị trường được xác định “đóng vai trò chủ yếu trong việc huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực phát triển”.

 

 

1. Một số vấn đề liên quan về nguồn lực lao động

Trong phát triển kinh tế, quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động để đưa các tư liệu lao động vào sản xuất để tạo ra sản phẩm, của cải vật chất cho xã hội. Nguồn lực lao động (nguồn lao động), lực lượng lao động và nguồn nhân lực là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc xác định và tính toán cân đối lao động - việc làm trong xã hội.

a. Nguồn lực lao động

Nguồn lực lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau qua các thời kỳ trong cùng một quốc gia, tùy thuộc trình độ phát triển của nền kinh tế. Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổi, hoặc 65 tuổi...). Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật Lao động, độ tuổi lao động đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ là từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Nguồn lao động luôn được xem xét trên 2 mặt biểu hiện là số lượng và chất lượng.

 - Xét về mặt số lượng, nguồn lao động bao gồm:

Bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định).

- Chất lượng của nguồn lao động là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động. Chất lượng nguồn lao động còn có thể được hiểu là: trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề - trí lực và sức khoẻ - thể lực của người lao động.

Ngoài ra, có thể xem xét chất lượng nguồn lao động thông qua chỉ tiêu biểu hiện năng lực phẩm chất của người lao động.

b. Lực lượng lao động

 Theo Tổ chức Lao động quốc tế, lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm. Ở nước ta hiện nay, lực lượng lao động được xác định là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội.

Lực lượng lao động bao gồm những người có việc làm (trong tuổi lao động và trên tuổi lao động) và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm (thất nghiệp).

Lực lượng lao động không bao gồm những người trong tuổi lao động nhưng nằm trong các tình trạng: làm nội trợ chính trong gia đình, học sinh, sinh viên, những người không có nhu cầu làm việc...

Như vậy, nguồn lực lao động luôn rộng hơn lực lượng lao động, hay nguồn lực lao động là cung tiềm năng về lao động còn lực lượng lao động là cung thực tế về lao động.

c. Nguồn nhân lực

Cho đến nay, khái niệm nguồn lực con người (hay nguồn nhân lực) đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Các cơ quan chuyên môn của Liên Hợp quốc cho rằng, nguồn nhân lực bao hàm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Một số nhà khoa học của Việt Nam cho rằng, nguồn nhân lực “được hiểu là số dân và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó”.

Nguồn nhân lực của một đất nước được đánh giá trên hai mặt chủ yếu là số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được đánh giá bằng các chỉ tiêu: tỷ lệ nguồn nhân lực trong dân số; tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người trong độ tuổi lao động; tỷ lệ lao động có việc làm trong lực lượng lao động...

Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá bằng các chỉ tiêu:

- Trạng thái sức khỏe nguồn nhân lực, trong đó chú ý về tuổi thọ bình quân; thể trạng của người lao động; phân loại sức khỏe; chỉ tiêu suy giảm sức khỏe hoặc không có khả năng lao động...

- Chỉ tiêu trình độ văn hóa của nguồn nhân lực, đây là chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trình độ văn hóa cao sẽ tạo điều kiện và khả năng tiếp thu, vận dụng có hiệu quả những tiến bộ mới của khoa học công nghệ trong thực tiễn lao động sản xuất, trong các lĩnh vực khác của đời sống.

- Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn-kỹ thuật của nguồn nhân lực được thể hiện bằng tỷ lệ cán bộ, công nhân và người lao động nói chung có trình độ tay nghề, trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học so với nguồn nhân lực lao động chung của cả nước.

Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực còn được đo bằng chỉ số phát triển con người HDI là thước đo tổng hợp sự phát triển con người trên 3 phương diện: sức khỏe, tri thức và thu nhập và một số chỉ tiêu khác mang tính định tính về môi trường làm việc của người lao động như truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa, văn minh của dân tộc, phong tục, tập quán, lối sống...

Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng, năng lực, khả năng của mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng và toàn xã hội đã tạo ra sự phát triển cho xã hội được thể hiện qua các yếu tố như giáo dục, chuyên môn, kỹ năng lao động, mức sống, sức khỏe, tư tưởng, tình cảm. Trong các yếu tố đó thì hai nhân tố quan trọng và bao quát nhất là giáo dục và sức khỏe.

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên” đặc biệt, một nguồn lực quan trọng của sự phát triển. Chính vì lẽ đó, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực đang chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của đất nước. Việc đầu tư để phát triển nguồn lực con người là đầu tư chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.

2. Thực trạng nguồn lực lao động ở Việt Nam hiện nay

a. Đánh giá về nguồn lực lao động của Việt Nam

Với dân số ước tính khoảng 94 triệu người vào năm 2018; trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 54,61 triệu người, chiếm 59,5%, Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ dân số vàng với nguồn cung lao động dồi dào và ổn định. Biểu đồ 1 cho thấy, dân số từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam vẫn gia tăng, từ quý 2/ 2012 đến quý 2/2017 dân số tăng 3,4 triệu người, lực lượng lao động trong giai đoạn này vẫn tăng trên 1,9 triệu người và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động vẫn duy trì ở mức ổn định.

Về trình độ chuyên môn - kỹ thuật: Biểu đồ 2 cho thấy, lực lượng lao động với trình độ chuyên môn - kỹ thuật cao tăng trong giai đoạn quý 2/2012 đến quý 2/2017. Tỷ lệ lao động không có trình độ chuyên môn - kỹ thuật giảm 5,10 điểm phần trăm, tỷ lệ lao động với trình độ sơ cấp tăng 1,08 điểm phần trăm, tỷ lệ lao động với trình độ cao đẳng tăng 0,80 điểm phần trăm và tăng cao nhất là tỷ lệ lao động với trình độ đại học tăng 3,00 điểm phần trăm.

Mặt khác, chất lượng nguồn nhân lực lao động Việt Nam còn rất nhiều hạn chế; trong đó tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp, thiếu hụt lao động có tay nghề cao. Khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động ngày càng lớn.

Khi xem xét vấn đề thất nghiệp theo góc độ trình độ chuyên môn - kỹ thuật thì tỷ lệ thất nghiệp đang có xu hướng gia tăng trong số lao động có trình độ cao. Trong bản tin Thị trường lao động số 15, tại thời điểm quý 3/2017, số người thất nghiệp có trình độ từ đại học trở lên tăng 53,9 nghìn người so với quý 2/2017 ở mức 237 nghìn người, tương đương 4,51%. Xu hướng thất nghiệp gia tăng có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là do chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo và dạy nghề chưa cao nên lao động tốt nghiệp đa số không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Đồng thời, sự chuyển dịch mô hình, cơ cấu kinh tế khiến cho cung và cầu trong lao động thay đổi, trong khi các ngành đào tạo trong nhà trường chưa bắt kịp được xu thế sử dụng lao động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin thị trường lao động chưa phản ánh khách quan, kịp thời sự biến động của thị trường lao động; chưa đưa ra được các dự báo trung và ngắn hạn về thị trường lao động và tính hiệu quả chưa cao của hoạt động dịch vụ việc làm đã góp phần làm gia tăng xu hướng này.

Như vậy, có sự thiếu tương thích giữa đào tạo với cơ hội việc làm trên thị trường. Câu hỏi đặt ra là, phải chăng tốc độ gia tăng việc làm ở khu vực có tay nghề cao thấp hơn khu vực đòi hỏi tay nghề không cao? Liệu điều đó có phản ánh chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam?

b. Những vấn đề đặt ra cho Việt Nam về nguồn lực lao động thời gian tới

Trong những năm tới, Việt Nam sẽ phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số và sẽ mất dần lợi thế lực lượng lao động trẻ. Nền kinh tế cũng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ hiện tượng biến đổi khí hậu khiến một số ngành suy giảm mạnh về lợi thế cạnh tranh.

Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp. Sự không đồng đều về chất lượng nhân lực trong nước và so với các nước trong khu vực trong điều kiện yêu cầu cao về kỹ năng nghề và đổi mới nhanh chóng về sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.

Khoa học, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chưa có giải pháp đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp và thu hút đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh tế trong giai đoạn suy giảm, tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc làm cho người lao động.

Nguồn lực hỗ trợ tạo việc làm thấp, chưa đảm bảo để thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ giải quyết việc làm. Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao; chất lượng lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung đạt 51,6%, trong đó qua đào tạo từ 3 tháng trở lên (có bằng cấp chứng chỉ) mới đạt khoảng 21,9%.

Thị trường lao động trong nước và thế giới ngày càng đòi hỏi người lao động phải đạt được chuẩn nghề nghiệp, trong khi đó, hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đang được xây dựng và mới bước đầu hướng tới chuẩn khu vực và thế giới.

3. Giải pháp phát huy nguồn lực lao động trong đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam hiện nay

Cốt lõi của việc tiếp tục sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay là đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại. Giải pháp đột phá là lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu. Theo đó, Việt Nam chọn lọc một số ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao...

Theo đó, để phát huy nguồn lực lao động trong đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, thống nhất nhận thức về phát huy nhân tố con người trong đổi mới mô hình tăng trưởng; giải quyết thỏa đáng lợi ích chính đáng, thiết thực, cấp thiết của người lao động

Phát huy nhân tố con người là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi người, tạo điều kiện cho mỗi người phát triển toàn diện, phát huy tối đa tài năng, năng lực của cá nhân cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Đặc biệt là phát huy năng lực nhận thức (năng lực trí tuệ, tư duy, xử lý thông tin,v.v..) và hoạt động thực tiễn (năng lực sống, làm việc, ứng xử, thích nghi,v.v..) của con người Việt Nam. Do vậy, khi phát huy được các năng lực của nhân tố con người là phát huy được động lực phát triển của xã hội.

Với mỗi giai tầng xã hội, mỗi người lao động đều có các lợi ích kinh tế, chính trị, tinh thần, v.v.. Trong đó, phải đặc biệt chú ý tới lợi ích kinh tế; giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội. Bởi động lực sâu xa thúc đẩy con người hoạt động chính là lợi ích. Lợi ích chính là sản phẩm hoạt động của con người, là sự kết tinh, đối tượng hóa bản chất con người, là cái mang quan hệ xã hội. Lợi ích là cái liên kết các thành viên trong xã hội, nó được đặt trong quan hệ giữa con người với nhau và làm cơ sở cho việc xác lập các quan hệ giữa họ. Do vậy, cái làm cho con người tích cực hoạt động chính là lợi ích. Việc phát huy vai trò người lao động đặt ra yêu cầu phải giải quyết thỏa đáng và hài hòa lợi ích các bên: cá nhân - tập thể - xã hội. Coi trọng lợi ích cá nhân chính đáng nhưng chống chủ nghĩa cá nhân. Đồng thời, cũng chống việc tuyệt đối hóa lợi ích tập thể mà quên lợi ích cá nhân chính đáng.

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ về tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, thiết thực, tạo cơ hội cho mỗi người dân phát huy tối đa năng lực, trí tuệ cho sự nghiệp đổi mới đất nước

Hiện nay, đội ngũ cán bộ trong bộ máy nhà nước còn nhiều hạn chế, yếu kém. Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh, năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế của đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”...

Bộ máy nhà nước cồng kềnh, quan liêu, kém hiệu quả sẽ là lực cản lớn đối với việc phát huy nhân tố con người; không thể tuyển chọn được người thực tài, thực giỏi, tâm huyết với công việc, cống hiến hết mình cho đất nước. Phải có cơ chế minh bạch để tuyển chọn, sàng lọc, hình thành được đội ngũ công chức nhà nước tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước. Hiện thực hóa và cụ thể hóa chủ trương của Đại hội XII: “Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ; lấy bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, hiệu quả thực thi nhiệm vụ để đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài”(1).

Thực hiện đổi mới cơ chế, chính sách, xóa bỏ những rào cản, chính sách kìm hãm, trói buộc nhân tố con người. Chẳng hạn như chính sách tiền lương, nếu tiền lương bình quân chủ nghĩa, không phản ánh được hiệu quả công việc, tài năng, trình độ chuyên môn và thời gian cống hiến thì sẽ không thể động viên, phát huy được nhân tố con người.

Rà soát để loại bỏ những cơ chế, chính sách tạo ra bất bình đẳng giữa các vùng, miền, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, quan liêu... Đồng thời, Nhà nước cần tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho mỗi người được phát huy năng lực, sở trường, tài năng, trí tuệ... của mình cho phát triển đất nước: như tạo không khí làm việc cởi mở, dân chủ, công khai; điều kiện làm việc thuận lợi, phương tiện thông tin nhanh, kịp thời; bảo đảm cho mỗi người có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; quyền tự do sáng tạo, phát triển ý tưởng khoa học, tạo điều kiện cho mỗi người phát huy hết tài năng sáng tạo.

Thứ ba, phát huy vai trò là chủ, làm chủ của người lao động

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm tạo mọi điều kiện cho người lao động có quyền học tập, lao động sáng tạo, quyền cống hiến, quyền phát huy vai trò của chính mình; nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước. Tuy nhiên, phát huy dân chủ phải đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, chống dân chủ hình thức. Đại hội XII của Đảng yêu cầu: “Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”(2); “Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện”(3). Trên cơ sở đó, chúng ta mới phát huy tốt nhân tố con người cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Thứ tư, tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực

Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực thể hiện trực tiếp nhất trong việc tăng cường đầu tư cho phát triển giáo dục - đào tạo, tăng quy mô và chất lượng giáo dục - đào tạo ở các cấp. Mục tiêu của đầu tư vào lĩnh vực này là đào tạo đón đầu, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp của người lao động phục vụ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế có trình độ nắm bắt được khoa học công nghệ cao, nắm bắt được sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ. Để thực hiện mục tiêu tăng đầu tư cho giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau kể cả trực tiếp và gián tiếp. Trong đó, đầu tư từ ngân sách, cần chú trọng đến cơ cấu phân bổ, hiệu quả và chất lượng. Cần tăng cường xã hội hóa hoạt động giáo dục - đào tạo, bao gồm cả đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư và hình thức tổ chức đào tạo.

Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con người là trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế thì phát triển nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược; đồng thời, phát triển nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia. Việc phát triển nhân lực, một mặt, cần phải có tầm nhìn chiến lược phát triển tổng thể và dài hạn, nhưng đồng thời, trong mỗi thời kỳ nhất định, cần xây dựng những định hướng cụ thể, để từ đó đánh giá thời cơ, thách thức, những khó khăn, hạn chế... để đề ra mục tiêu và giải pháp phát triển thích hợp cho từng giai đoạn phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế.

__________________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2019

(1), (2), (3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.181, 38, 38.

Tài liệu tham khảo:

1. Chu Văn Cấp: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển bền vững Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 9 (839)/2012.

2. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2017): Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam, số 12, quý IV/2016;

3. Tổng cục Thống kê (2016): Báo cáo năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp.

4. TS. Lê Tuấn Ngọc, ThS. Hoàng Thị Kim Oanh: Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với lao động Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 6-2017.

5. Nguyễn Quỳnh: Nguồn nhân lực chất lượng quyết định tăng trưởng kinh tế bền vững, vov.vn, ngày 28-11-2017.

 

TS HOÀNG NGỌC HẢI

Học viện Chính trị khu vực I

 

TS HOÀNG NGỌC HẢI

Học viện Chính trị khu vực I