Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Quan điểm của Đảng về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới
Thứ ba, 31 Tháng 5 2016 09:10
2725 Lượt xem

Quan điểm của Đảng về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới

(LLCT) - Nếu tiếp cận phạm trù xã hội theo nghĩa hẹp, thì phát triển xã hội chính là khía cạnh xã hội của sự phát triển. Theo nghĩa này, nội dung của phát triển xã hội là những vấn đề thiết yếu của đời sống, như: việc làm, thu nhập, an sinh xã hội, an ninh xã hội, dịch vụ xã hội, ưu đãi xã hội... Quản lý phát triển xã hội là hoạt động quản lý của nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật thuộc lĩnh vực xã hội, nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển đời sống vật chất và tinh thần của con người và phát triển xã hội bền vững.

Thời kỳ trước đổi mới (1986), do những sai lầm chủ quan, duy ý chí trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải tạo XHCN và xây dựng CNXH, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp mà nền kinh tế Việt Nam đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Mô hình quản lý xã hội thời kỳ này đã kìm hãm lực lượng sản xuất và triệt tiêu nhiều động lực phát triển. 

Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã hoạch định đường lối đổi mới đất nước, trong đó bắt đầu từ đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõ hơn, đúng đắn hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, xác lập một mô hình phát triển mới cho đất nước, bổ sung, phát triển lý luận về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong điều kiện mới.

Đại hội VI khẳng định quan điểm lấy việc phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động. Lần đầu tiên khái niệm “chính sách xã hội” được nêu trong Văn kiện Đại hội VI và nội hàm của chính sách xã hội được xác định rõ: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc... Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1). Quan niệm này đánh dấu sự đổi mới nhận thức của Đảng về vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, cốt lõi của đổi mới là đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy việc phát triển nhân tố con người làm thước đo hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế, xã hội.

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, “Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật... Mọi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý”(2). Bên cạnh vai trò quản lý của Nhà nước, Đại hội VI đã nhận thức rõ vai trò, vị trí của nhân dân và các đoàn thể quần chúng đối với việc quản lý và thực hiện chính sách xã hội khi khẳng định phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, điều này thể hiện một bước phát triển mới so với quan điểm trước đây về chủ thể quản lý phát triển xã hội, tuyệt đối hóa vai trò của Nhà nước, nhìn nhận giải quyết các vấn đề xã hội như là sự ban phát từ trên xuống dưới, bởi cơ chế “xin - cho”.

Đại hội VII của Đảng (6-1991) tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của phát triển xã hội và nhấn mạnh mục tiêu của chính sách xã hội trong mối quan hệ với chính sách kinh tế: “Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế”(3).

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng nêu rõ: “Chính sách xã hộiđúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”(4).

Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1-1994), quan niệm về chính sách xã hội và phát triển xã hội được nhìn nhận một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn và phản ánh quyết tâm của Đảng trong việc đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội để từ đó tạo điều kiện thực hiện phát triển xã hội vững chắc và hiệu quả hơn: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Công bằng xã hội thể hiện cả ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất, lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, cũng như ở điều kiện phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng”(5).

Như vậy, với quan niệm của Đảng về phát triển xã hội được nhìn nhận khách quan hơn, khía cạnh xã hội của sự phát triển được xác định là một tất yếu trong quá trình phát triển; phát triển và hoàn thiện con người tiếp tục được khẳng định là mục tiêu cần đạt đến, phải được thể hiện trong mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã chủ trương tăng cường xây dựng các luật, các chính sách nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động, một mặt vừa khuyến khích đầu tư để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, mặt khác xây dựng các cơ chế nhằm hạn chế bất công xã hội. Thông qua hệ thống pháp luật, Nhà nước khuyến khích mọi người dân, mọi thành phần kinh tế làm giàu chính đáng đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo, đồng thời có chính sách ưu đãi hợp lý về tín dụng, về thuế, đào tạo nghề nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo có thể tự mình vươn lên và thoát nghèo(6). Bên cạnh vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc quản lý phát triển xã hội, không chỉ dừng lại ở phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần thiết phải nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội trong vấn đề giải quyết các vấn đề xã hội: “Đề cao trách nhiệm của mỗi công dân tự giải quyết những vấn đề của bản thân và gia đình mình; đồng thời tăng cường cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội, phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc ta”(7).

Tại Đại hội VIII(6-1996), Đảng ta đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo định hướng cho việc thực hiện hệ thống chính sách xã hội: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất; thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo. Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội(8).

Tổng kết 20 năm đổi mới đất nước, Đại hội X của Đảng chủ trương phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội phải tiếp tục được đặt trong mối quan hệ không tách rời với phát triển kinh tế và quản lý phát triển kinh tế. Đại hội đã đưa ra những tiêu chí cần thiết và phương châm thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với phát triển xã hội: “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo”(9)và “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”(10)

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng, mục tiêu và nội dung của chính sách xã hội được nêu rõ:“Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội’’(11).

Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016) nhận định: Đảng đã nhận thức ngày càng cụ thể và đầy đủ hơn tầm quan trọng, mục tiêu và nội dung của việc giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Khẳng định mục tiêu chính sách xã hội là nhằm xây dựng và phát triển con người, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người, góp phần lành mạnh hóa xã hội và phát triển bền vững đất nước. Nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; vai trò của chính sách xã hội, sự thống nhất và kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội...”(12).

Như vậy, các quan điểm cơ bản nêu trên đã định hình hệ lý luận của Đảng về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong thời kỳ đổi mới. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò là chủ thể quản lý phát triển xã hội, đồng thời các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá, động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội. Với tư cách là chủ thể chính trị, Nhà nước xây dựng chiến lược phát triển, thông qua hệ thống thể chế, chính sách, cơ chế tạo động lực cho phát triển xã hội tạo ra sự hài hòa trong phát triển giữa cá nhân và cộng đồng. Nhân dân và các tổ chức xã hội có vai trò hết sức quan trọng trong việc tham gia vào quá trình phát triển xã hội và đánh giá chính sách phát triển xã hội.

Những bước tiến trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong gần 30 năm đổi mới đã đem lại những thành tựu to lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có những thành tựu vượt bậc về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.

Nhờ có sự tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định đã tạo ra điều kiện vật chất để Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư và đẩy mạnh việc thực hiện phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ngày càng có hiệu quả hơn.

Các chính sách về lao động và việc làm đã ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bộ luật Lao động được sửa đổi nhiều lần qua các năm 2002, 2006, 2007 và 2012, đã tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến quan hệ lao động. “Mỗi năm bình quân tạo ra 1,5-1,6 triệu việc làm mới. Năm 2014, lao động trong khu vực chính thức đạt trên 30% và lao động đã quan đào tạo chiếm khoảng 49% tổng số lao động”(13). Đã xây dựng và triển khai Luật Việc làm và nghiên cứu xây dựng Chương trình việc làm công.

Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng. Trong gần 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán về chính sách giảm nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp; đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều và khắc phục nguy cơ tái nghèo. Đã tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo theo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm 2010. Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Tổng cục Thống kê, tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống 29% năm 2002 và còn 7,8% vào năm 2013, 5,8-6% năm 2014 và phấn đấu đến hết năm 2015 hộ nghèo trong cả nước còn dưới 5%(14). Như vậy, Việt Nam đã “hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”, mà Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) của Liên Hợp quốc đã đề ra(15).

Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Tỷ lệ người dân (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 84% cuối những năm 1980 lên 90,3% năm 2007. Từ năm 2006 đến nay, trung bình hằng năm quy mô đào tạo trung học chuyên nghiệp tăng 10%; cao đẳng và đại học tăng 7,4%. Năm 2009, trên 1,3 triệu sinh viên nghèo được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay với lãi suất ưu đãi để theo học.

Các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã có những tiến bộ vượt bậc. Tính đến năm 2013, hầu hết tuyến xã đã có trạm y tế, 95,9% số thôn, bản có nhân viên y tế; 74,9% các trạm y tế xã có bác sỹ, khoảng 96% trạm y tế xã có y sỹ, nữ hộ sinh... Nhờ đó, việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc, chữa trị bệnh của người dân đã được cải thiện(16).

Chính sách ưu đãi người có công được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. “Cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu người có công, chiếm khoảng 10% dân số, có khoảng 1,4 triệu người được hưởng trợ cấp thường xuyên. Bảo đảm mức sống của người có công bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn cư trú”(17).

Chính sách an sinh xã hội ngày càng mở rộng và hiệu quả. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. “Đến năm 2014, cả nước có hơn 11 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, 190 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hơn 9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và hơn 61 triệu người tham gia bảo hiểm y tế(18). Cùng với đó, Nhà nước đang xúc tiến xây dựng Luật An sinh xã hội và sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội.

Ngoài ra, để định hướng, nâng cao hiệu quả phát triển xã hội, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước cũng chú trọng đẩy mạnh công tác quản lý phát triển xã hội thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực xã hội khác. Diện thụ hưởng chính sách ngày càng mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên. Nguồn lực đầu tư các lĩnh vực xã hội ngày càng được tăng cường và đa dạng hóa. Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách để xây dựng, phát huy vai trò của các giai tầng xã hội trong sự nghiệp đổi mới, về bình đẳng giới, về chăm sóc bà mẹ và trẻ em, hôn nhân và gia đình, chăm sóc người cao tuổi, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình…

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Đó là: “Một số chính sách xã hội chậm đổi mới, chưa sát thực tiễn, thiếu cơ sở khoa học; còn thiếu những chính sách đặc thù cho những vùng đặc thù; thiếu cơ chế chính sách điều tiết hợp lý quan hệ lợi ích, điều hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội. Tiền lương chưa đảm bảo cuộc sống cán bộ, công chức, viên chức. Cải cách tiền lương tiến hành chậm, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra”. Đồng thời, “Quản lý xã hội còn nhiều bất cập, lúng túng, chồng chéo, thiếu hiệu quả; tiêu cực xã hội, tệ nạn xã hội, tai nạn xã hội, tội phạm xã hội có chiều hướng gia tăng”(19).

Do đó, cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện chủ trương, chính sách về quản lý phát triển xã hội. Cùng với phát triển kinh tế và quản lý phát triển kinh tế, phát triển xã hội ở Việt Nam phải vượt qua quan niệm truyền thống để phát triển bền vững, gắn liền xã hội, con người và với môi trường tự nhiên. Quản lý phát triển xã hội ở nước ta theo đó phải tính đến tính chỉnh thể và đồng bộ, đòi hỏi không ngừng nâng cao năng lực của chủ thể quản lý. Trong điều kiện mới, Nhà nước cần phải tiếp tục huy động được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội trong việc thực hiện phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, có như vậy mới có thể tạo dựng một xã hội phát triển bền vững theo định hướng XHCN.

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2015

(1), (2) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.47, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.420, 455.

(3), (4) Sđd, t.51, tr.100, 139.

(5), (6), (7)  Sđd, t.53, tr. 216, 217, 217.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.113-114.

(9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.178-179, 101.

(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.79.

(12), (13), (14), (17), (18), (19)  ĐCSVN: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm  đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.105, 109, 110, 111, 112, 114.

 

TS Phạm Đức Kiên

Viện Lịch sử Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác