Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
Thứ ba, 14 Tháng 6 2016 09:19
2128 Lượt xem

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước

(LLCT) - Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước là một tài sản quý giá trong di sản cách mạng của Người, chứa đựng những giá trị to lớn cả về phương diện lý luận và thực tiễn đối với xây dựng nhà nước kiểu mới.

Ngay từ những năm đầu đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã sớm tiếp nhận tư tưởng về xây dựng một nhà nước pháp quyền. Năm 1919, Nguyễn Tất Thành cùng với những người Việt Nam yêu nước đã gửi bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Véc xây. Bản yêu sách gồm 8 điều, trong đó có 2 điều liên quan trực tiếp tới vấn đề pháp quyền. Đó là:

“Điều 2: Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người châu Âu.

Điều 7: Thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”(1).

Và từ những năm 20 (thế kỷ XX), Nguyễn Ái Quốc đã phê phán một cách quyết liệt bản chất của bộ máy nhà nước thực dân. Người vạch trần bản chất xấu xa của chế độ thực dân đế quốc bên trong cái vỏ hào nhoáng khai hóa văn minh trước công luận; và qua đó, Người chuẩn bị cho mình những cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành nên tư tưởng về một nhà nước kiểu mới, thật sự dân chủ. Điều này thể hiện rõ trong tác phẩm Đường Cách mệnh. Người viết: "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc"(2). Quan điểm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân và phục vụ cho lợi ích của nhân dân là cốt lõi và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, tư tưởng về dân chủ - với ý nghĩa là bản chất của quyền lực nhà nước và phương thức tổ chức, triển khai quyền lực nhà nước là một nét đặc sắc. Theo Người, dân chủ hiểu một cách chung nhất là quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ; và, "Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ"(3).

Địa vị làm chủ của người dân, tức là quan hệ của người dân với quyền lực nhà nước, được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ với đội ngũ cán bộ nhà nước - những người trực tiếp thi hành quyền lực nhà nước. Người viết: Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đày tớ cho dân. Người căn dặn: Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết. … Nếu dân là chủ thì nhà nước, cán bộ nhà nước là công bộc của dân. Đây là một sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh. Chính tư tưởng này đã chỉ rõ sự đối lập về chất của nhà nước nhân dân với nhà nước phong kiến, nhà nước thực dân. Ở đây, Hồ Chí Minh đã chỉ ra nội hàm của khái niệm "công bộc của dân", và có thể hiểu đây là một định nghĩa của Người về chức năng của Nhà nước mà ý nghĩa sâu sắc của nó vẫn còn giữ nguyên tính thời sự và cần được quán triệt trong công cuộc xây dựng Nhà nước ta hiện nay.

Khái niệm dân chủ còn được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ với khái niệm chuyên chính. Người viết: "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ"(4); và "Nhà nước ta cũng là nhà nước của đại đa số nhân dân, để thống trị thiểu số phản động, để giữ gìn lợi ích của nhân dân, bằng cách dân chủ chuyên chính của nhân dân”(5).

Khi bàn về vai trò của Nhà nước, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về nhân dân quản lý nhà nước. Điều đáng lưu ý là việc nhà nước tiến hành các hoạt động nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân, thì đồng thời, đó cũng chính là nhằm tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia quản lý nhà nước. Người viết: "... chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý Nhà nước. Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu"(6).

Luôn có ý thức và quan điểm rõ ràng về việc thiết lập quyền lực của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chỉ có nhà nước do nhân dân bầu ra mới là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Bởi vậy, đối với Người, việc sớm xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là đặc biệt cần thiết và quan trọng. Coi nhân dân là những người chủ thực sự của đất nước, Người khẳng định rằng, mọi người dân, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, giàu nghèo, gái trai... đều có quyền bầu những người đại diện cho mình tham gia Quốc hội và có quyền ứng cử. Trong tư tưởng về xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến quan hệ về trách nhiệm giữa đại biểu Quốc hội với cử tri. Người cho rằng, nhân dân có quyền kiểm soát, giám sát và bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân khi những đại biểu ấy không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân; với tư cách người đại diện cho nhân dân, những đại biểu của cơ quan dân cử các cấp phải liên hệ mật thiết với quần chúng, lắng nghe ý kiến, nắm được yêu cầu và phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân.

Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phải là nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật; các quyền làm chủ của nhân dân phải được thể chế hoá. Một vấn đề quan trọng khác của nhà nước pháp quyền mà Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là tính hiệu quả, tính nghiêm minh trong thực thi pháp luật. Sự hiện diện của pháp luật mới chỉ là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để bảo đảm ổn định xã hội. Một xã hội muốn ổn định và phát triển không những phải có hệ thống pháp luật của mình, mà còn phải có cơ chế thực hiện pháp luật bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng. Nhận thức sâu sắc điều đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi pháp luật XHCN phải đủ mạnh, được thực hiện nghiêm minh, việc xét xử phải khách quan, công bằng, không thiên vị. Chúng ta đang phấn đấu đến một xã hội trong đó không có người bóc lột người, không có sự xâm phạm và làm hại đến lợi ích chính đáng của người khác, mọi người sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật...; do vậy, đối với những kẻ bất liêm, theo quan điểm của Người, dù kẻ đó ở địa vị nào và làm nghề gì, pháp luật cũng phải thẳng tay trừng trị.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền, Người luôn đề cao vai trò và tầm quan trọng của pháp luật, song không vì thế mà tuyệt đối hoá pháp luật hoặc coi đó là biện pháp duy nhất để tổ chức và quản lý xã hội. Ý nghĩa nhân văn trong triết lý pháp luật của Hồ Chí Minh là ở chỗ, đối với Người, tất cả mọi quyền lực nhà nước đều phải thuộc về nhân dân; nhân dân vừa là mục đích mà nhà nước hướng tới phục vụ, vừa là chủ thể của nhà nước. Do đó, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm về sự kết hợp đạo đức cách mạng với pháp luật theo tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở bảo đảm cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân hiện nay.

Với những giá trị khoa học to lớn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân chính là cơ sở, định hướng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN mà Đảng ta xác định là một nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.

Ngay từ Hội nghị Trung ương 2 khóa VII năm 1994, lần đầu tiên Đảng đã đề cập đến thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền”. Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994 và các Đại hội VIII, IX, X, X và gần đây nhất là Đại hội XII, Đảng tiếp tục xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và xác định rõ những đặc trưng chủ yếu của  Nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Đó là:

Một là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đây là đặc trưng cơ bản, được ghi nhận trong Hiến pháp nước ta và được thể hiện trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

Tư tưởng nhà nước của dân, do dân, vì dân đã có từ sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị nhân loại. Tuy nhiên, nét đặc trưng của tư tưởng này ở Việt Nam được thể hiện ở chỗ nó là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài và bền bỉ chống lại ách thống trị của phong kiến, thực dân, đế quốc để giải phóng dân tộc Việt Nam, kết thúc bằng một trong những sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, đó là cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - mà ngay từ khi thành lập, chính quyền mới đã thể hiện tính nhân dân và cách mạng sâu sắc.

Khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân không chỉ là khẳng định một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp mà còn khẳng định sự cần thiết phải lập ra cơ chế đảm bảo thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân. Nhân dân là người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên nhà nước, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện để thực thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động quản lý của nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định đường lối, chính sách, cũng như tham gia vào các hoạt động khác. Từ đó, có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của Nhà nước là khả năng phục vụ nhân dân, là công cụ để nhân dân làm chủ về kinh tế, chính trị, xã hội, sử dụng tốt và có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mình.

Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta.

Quan điểm về tính thống nhất của quyền lực, về sự phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một quan điểm chính trị - pháp lý có tính khái quát cao. Nói quyền lực nhà nước thống nhất không có nghĩa là sự tập trung quyền lực cao độ vào một nhánh quyền lực nào mà là sự thống nhất ở mục tiêu chung là sự phục vụ lợi ích của dân tộc, của đất nước, của nhân dân.

Ba là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thừa nhận Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; tổ chức và hoạt động của Nhà nước thực hiện trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật.

Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và được thể hiện trong Hiến pháp. Chính vì lẽ đó mà Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an toàn của người dân. Hệ thống pháp luật thể hiện đầy đủ, đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật là của tất cả công dân, không loại trừ đối với bất cứ ai.

Bốn là, Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, do vậy, tư tưởng “trọng dân” phải được quán triệt toàn bộ tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Tư tưởng “trọng dân” hoàn toàn không mâu thuẫn với tư tưởng “trọng pháp”, mà nó thống nhất, quan hệ chặt chẽ với nhau bởi “trọng dân thì phải trọng pháp và trọng pháp là để trọng dân”.

Thông qua pháp luật mà các cơ quan nhà nước thực hiện trách nhiệm bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội, chịu trách nhiệm pháp lý về những vi phạm của mình trong quan hệ với công dân; chịu sự giám sát của nhân dân. Về phần mình, công dân phải thực hiện trách nhiệm của mình trong việc chấp hành pháp luật, thể hiện tính tích cực trong đời sống chính trị đất nước, chịu trách nhiệm pháp lý về những hành vi của mình.

Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do một đảng duy nhất lãnh đạo, có sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu khách quan. Đảng với tư cách là đảng cầm quyền được tổ chức và hoạt động với tính chất là một nhân tố quan trọng của cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước.

Ngày nay, với các yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt là nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam cần được thực hiện một các đồng bộ, có bước đi phù hợp. Đặc biệt luôn khẳng định vai trò của nhân dân, nhân dân chính là động lực, là cội nguồn của sức mạnh xây dựng và phát triển đất nước. Chỉ khi nào phát huy được sức sáng tạo, tinh thần đoàn kết toàn dân, được nhân dân ủng hộ thì khi ấy sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam mới thực sự thành công như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn.

_______________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000,  tr. 436

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập,  t.2,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr .270

(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t.7, tr.218 - 219, 216- 217

(4) (5) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.279 – 280

(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr .593

ThS Trần Thị Mai

ThS Nguyễn Tấn Hùng

Học viện Ngân Hàng

 

 

Các bài viết khác