Trang chủ    Nghiên cứu lý luận     Từ góc độ văn hóa nhận thức về sự lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười của Hồ Chí Minh
Thứ tư, 08 Tháng 11 2017 14:40
54 Lượt xem

Từ góc độ văn hóa nhận thức về sự lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười của Hồ Chí Minh

(LLCT) - Hồ Chí Minh lựa chọn theo con đường cách mạng vô sản xuất phát từ sự nhìn nhận thang giá trị cao nhất của văn hóa là giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Người lựa chọn đi theo Cách mạng Tháng Mười vì những giá trị lý luận và thực tiễn của cuộc cách mạng này, với các giá trị văn hóa phù hợp với giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

1. Do vị thế địa kinh tế - chính trị của đất nước, trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh với thiên nhiên nghiệt ngã và sự hung tàn của giặc ngoại xâm để sinh tồn và phát triển, dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã xây đắp nên một truyền thống văn hóa tôn vinh những giá trị hướng tới và thực hiện sự giải phóng và phát triển của dân tộc, con người Việt Nam, hình thành nên chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước-nhân văn Việt Nam là giá trị kép của văn hóa truyền thống, trong đó biểu thị rõ mối quan hệ khăng khít giữa lợi ích của cộng đồng dân tộc và con người, đồng thời cho thấy việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ này là nguyên nhân căn bản bảo đảm cho sự phát triển của dân tộc và con người Việt Nam trong tiến trình lịch sử.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam: Giá trị của dân tộc luôn gắn chặt với giá trị về con người và được hiện hữu trong tất cả chiến lược bảo vệ và phát triển đất nước.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, khát vọng giải phóng con người Việt Nam khỏi sự áp bức dân tộc cực kỳ mạnh mẽ, đã đưa đến hàng loạt cuộc khởi nghĩa nổ ra và thúc đẩy nhiều nhà cách mạng Việt Nam tìm tòi con đường cứu nước, cứu dân.

Cùng ý chí cứu nước, cứu dân, hành trang lên đường cứu nước của các nhà cách mạng nước ta (trong đó có Hồ Chí Minh), là truyền thống văn hóa dân tộc và những kinh nghiệm thành công hoặc không thành công trước đó. Các nhà cách mạng đều nhận thấy những giới hạn của các phương thức cứu nước cũ và đều hướng ra nước ngoài hy vọng tìm thấy con đường cứu nước mới.

Sự lên đường cứu nước, cứu dân của các nhà cách mạng hồi đầu thế kỷ XX bởi sự thúc đẩy của văn hóa truyền thống và đáp ứng sự đòi hỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam lúc đó.   

Tuy nhiên, con đường cách mạng mà các sỹ phu như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu...thâu nhận là mới với Việt Nam, với dân tộc, nhưng đã cũ xét theo lịch sử tiến hóa của nhân loại. Những giá trị của các cuộc cách mạng tư sản không tương thích với các giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam về vấn đề dân tộc và con người và đã bị vượt qua. Đó là sự không đến nơi, như Hồ Chí Minh sau này đã viết về cách mạng Mỹ, Anh, Pháp-các cuộc cách mạng tư sản điển hình.

Do không tương thích về giá trị văn hóa nên nó khó thâm nhập và thất bại khi đưa vào Việt Nam dưới các hình thức và các phong trào yêu nước theo xu hướng này. Giá trị lớn nhất có thể kể tới về ảnh hưởng của các phong trào mang màu sắc tư sản ở nước ta là làm bùng phát một phong trào dân tộc, trở thành chất liệu nuôi dưỡng liên tục ngọn lửa yêu nước trong lòng dân tộc và tạo cơ sở xã hội cho việc thâm nhập tư tưởng cách mạng mới, với những giá trị mới phù hợp với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam về vấn đề dân tộc và con người.

Thất bại của các phong trào cứu nước hồi đầu thế kỷ XX có thể xem  là sự chối từ của văn hóa Việt Nam đối với những giá trị được diễn đạt rất hay nhưng vẫn ẩn chứa nội dung áp bức dân tộc và con người của cách mạng tư sản. Đây cũng là điều lý giải tại sao sau gần mười năm gian khổ đi hầu khắp các châu lục, Hồ Chí Minh vẫn không lựa chọn con đường cách mạng tư sản.

2. Hồ Chí Minh viết khiêm tốn rằng: “Khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra ở nước Nga, tôi sống ở Pháp. Lúc đó, tôi chưa hiểu ý nghĩa cách mạng Nga. Trình độ tiếng Pháp của tôi còn kém và nhận thức chính trị của tôi còn hạn chế. Tôi chỉ là một người yêu nước có tinh thần cách mạng và một người chống chủ nghĩa thực dân...”(1).

Người nhận xét, đến năm 1919, nông dân thuộc địa chưa biết tới cuộc cách mạng Nga. Biết được một ít thì lại bị tuyên truyền đế quốc xuyên tạc...Do đó, tất cả đều bị bài hát của Tổng thống Uynxơn mê hoặc. “Cũng như dân tộc Triều Tiên, Ai Cập, Xyri và các dân tộc bị áp bức khác, một số những người quốc gia Việt Nam trẻ tuổi gửi một bản yêu cầu cho Hội nghị hòa bình Vécxây. Họ nhận được những bức thư rất hay của các phái đoàn hứa sẽ “chú ý xem xét”. Thế là hết”(2). Và “những nhà cách mạng cuồng nhiệt theo chủ nghĩa Uynxơn” đã bị hòa ước Vécxây, “như gáo nước lạnh gội lên đầu”(3).

Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đã giúp Hồ Chí Minh quan sát thực tiễn và thấy rõ tính chất “không đến nơi” của các cuộc cách mạng tư sản và sự hứa hẹn của các nước đế quốc chỉ là “trò bịp bợm lớn”, cũng như thấy rằng “trong tất cả những lời phát biểu” của các đại biểu Quốc tế II, “đã ra sức lảng tránh vấn đề vận mệnh của các dân tộc thuộc địa”(4). Hồ Chí Minh đã từ chối con đường cách mạng tư sản, đoạn tuyệt với ảnh hưởng của Quốc tế II, hướng tới ánh sáng mới, con đường cách mạng mới vì giải phóng dân tộc và con người Việt Nam.

Hồ Chí Minh viết: “những người vô sản Pháp đã giúp” Người “hiểu rõ ý nghĩa vĩ đại của những sự kiện lịch sử diễn ra ở nước Nga”(5), thấy rõ “cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu ánh sáng mới vào lịch sử loài người”(6) và chỉ ra con đường đúng đắn cho những người cách mạng của các dân tộc bị áp bức đi. Mặc dầu vậy, như Người viết: “nhờ kết quả thử nghiệm cũng như nhờ sự nghiên cứu sâu sắc những nhà cách mạng này mới đến với chủ nghĩa Mác hoặc như bản thân họ gọi là chủ nghĩa Lênin”(7).

Những kết quả thử nghiệm và những nghiên cứu sâu sắc ấy là gì để cho những nhà cách mạng ở các nước thuộc địa trong đó có Hồ Chí Minh lựa chọn chủ nghĩa Lênin và con đường Cách mạng Tháng Mười? Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng Tháng Mười với kết quả của nó “đã đánh dấu việc mở đầu một kỉ nguyên mới trong lịch sử loài người”. Theo Người, kỷ nguyên mới này được xác định theo những biểu hiện sau đây:  

Một là, “đãmở đường đi đến những thắng lợi mới của giai cấp công nhân trong cuộc sống xã hội”(8).

Hai là, đã xóa bỏ hiện tượng “quần chúng lao động là những người sáng tạo ra tất cả của cải thì bị dìm trong đói khổ và ngu dốt, hai cái đó là số phận khốc hại và lâu đời của đại bộ phận loài người. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người,nhân dân lao động bắt tay vào xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa không có bóc lột và áp bức dân tộc”(9).

Ba là, “đã chứng tỏ có khả năng lật đổ nền chuyên chính của bọn bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội đảm bảo cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang, ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng”(10).

Bốn là“đãmở ra thời đại của một chính sách ngoại giao mới, chính sách hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”(11).

Bên cạnh những ý nghĩa vạch thời đại trên, Hồ Chí Minh cho rằng, Cách mạng Tháng Mười đã:

a) “đem lại cho nhân dân tất cả các dân tộc quyền tự quyết và những phương tiện để thực hiện quyền đó”(12)... đã “tạo điều kiện cho sự liên minh tự nguyện giữa các dân tộc tự do trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng về quyền lợi”(13).

b)“Làm cho các dân tộc thuộc địa- từ trước đến nay rời rạc với nhau- hiểu biết nhau và đoàn kết với nhau, do đó đặt cơ sở mới cho một khối liên hiệp tương lai giữa các nước phương Đông, khối liên hợp đó là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”(14).

c)“Làm cho đội tiên phong của giai cấp vô sản ở các nước thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một  sự hợp tác thật sự sau này, chỉ có sự hợp tác đó mới có thể đảm bảo cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng”(15).

Với tất cả những ý nghĩa trên, Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng Tháng Mười “đã mở một thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại công nông đấu tranh giành quyền làm chủ vận mạng của mình; thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành lấy tự do độc lập; thời đại thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc; thời đại suy sụp và tan rã của chủ nghĩa đế quốc, thực dân; thời đại mà chủ nghĩa Mác- Lênin đã thành lý trí và lương tâm của mọi người tiến bộ trên thế giới”(16).

Nhờ nghiên cứu kết quả thử nghiệm và nghiên cứu sâu sắc về lý luận cũng như “thích tham dự vào các cuộc tranh luận sôi nổi” trong Đảng Xã hội Pháp, “thích đọc các tác phẩm của Lênin về các vấn đề thuộc địa” mà tại Đại hội Tua năm 1920, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III và khẳng định sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản.

Đó là sự lựa chọn của ý chí và niềm tin khoa học, vì như Người viết: “Đó là nguyên nhân chủ yếu khiến tôi đứng dưới ngọn cờ của Quốc tế thứ ba. Lúc đó, tôi đã nắm vững tiếng Pháp và đã có thể tự học chính trị một cách sâu sắc và có thể hiểu rõ các vấn đề quốc tế”(17).

3. Không chấp nhận học thuyết và mô hình cách mạng tư sản, không đi theo con đường của Quốc tế II, Hồ Chí Minh nhanh chóng tán thành Quốc tế III, tiếp nhận con đường cách mạng vô sản của Cách mạng Tháng Mười vì  giá trị thực tiễn của cuộc cách mạng này.

Trước hết, cần phải nói rằng, lựa chọn con đường cách mạng của Hồ Chí Minh là sự lựa chọn của chính văn hóa truyền thống Việt Nam, là biểu hiện của sự tương thích giữa giá trị văn hóa dân tộc với các giá trị mới của nhân loại mà con đường cách mạng vô sản như Cách mạng Tháng Mười đem lại về giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Nội dung của con đường cách mạng vô sản đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Sự nhìn nhận của Hồ Chí Minh về giá trị của Cách mạng Tháng Mười như đã trình bày ở trên và sự lựa chọn của Người dựa trên nền tảng văn hóa Việt Nam, nhu cầu thực tiễn của nhân dân Việt Nam theo thời đại mới được vạch ra sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã làm cho cách mạng Việt Nam hội đủ các yếu tố đảm bảo  thắng lợi ngay từ trong đường lối của nó, đó là thiên thời-địa lợi-nhân hòa.

Đó là sự phù hợp với xu thế tiến hóa của loài người: giải phóng dân tộc và con người trên một cấp độ mới cao hơn - là cơ sở tạo ra sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và thời đại (thiên thời).

Đó là sự đáp ứng được các giá trị văn hóa và nhu cầu của dân tộc Việt Nam nên được toàn dân nhanh chóng tiếp nhận, đi theo, tạo cơ sở  cho việc hình thành khối đại đoàn kết dân tộc rộng lớn để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới vì con người (địa lợi).

Đó là sự phù hợp với sự phát triển của văn minh nhân loại, đáp ứng yêu cầu thường trực của các dân tộc về vấn đề giải phóng dân tộc và con người, tạo cơ sở cho sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh  cho khát vọng độc lập dân tộc và tự do-hạnh phúc của dân tộc và con người Việt Nam (nhân hòa)

Thiên thời - địa lợi - nhân hòa,đó là những yếu tố căn bản để hình thành độ cao vô cùng của thế và tạo ra sức mạnh vô tận của lực cho mọi  thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Lựa chọn con đường cách mạng đồng thời là sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc, của đất nước Việt Nam. Tính đúng đắn trong sự lựa chọn con đường cách mạng phụ thuộc vào sự phù hợp với văn hóa và chỉ khi đã được dân tộc Việt Nam tiếp nhận, đồng thời nó phải phù hợp với trình độ phát triển theo xu thế tiến lên của loài người mà nó được biểu hiện bằng sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Bởi vậy, tuy lựa chọn theo con đường cách mạng vô sản của Cách mạng Tháng Mười Nga, nhưng ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ là cần phải vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để hoạch định đường lối cách mạng phù hợp với điều kiện Việt Nam và chỉ có vậy mới đáp ứng được đòi hỏi của dân tộc về văn hóa và sự phát triển chung.

Từ năm 1924, khi trả lời phỏng vấn báo Unita (Ý), Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được”(18). Sau này, Người viết: “Tất cả những người lao động trên thế giới  đều có mục đích chung là thoát khỏi áp bức bóc lột, được sống sung sướng, tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải theo điều kiện thiết thực của mình  mà tiến dần”(19).

Xuất phát từ “điều kiện thiết thực”của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vạch ra Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ rõ con đường  cách mạng nước ta là “làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(20). Sau này, Người phân tích rõ rằng: “Tính chất thuộc địa nửa phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến thực hiện người cày có ruộng, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới...Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của  chủ nghĩa cộng sản”(21). Với đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dưới sự dẫn dắt của Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác và “con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga”(22).

Ngày nay, con đường cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì độc lập-tự do-hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam, vì hòa bình và hữu nghị trong quan hệ quốc tế đang được nhân dân ta tiếp tục thực hiện thắng lợi trong những điều kiện lịch sử mới. Đó là con đường văn hóa nhất và mãi là con đường thắng lợi của cách mạng nước ta.

_________________

(1), (4), (5), (6), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 440, 441, 440, 558, 558, 559, 560, 560, 565, 440-441.

(2) Sđd, t.4, tr. 33

(3), (7) Sđd, t.2, tr. 390, 390

(14), (15), (18) Sđd, t.1, tr.302, 302, 428.

(16) Sđd,  t.10, tr. 635

(19), (21) Sđd,  t.7, tr. 209

(20) Sđd, t.3, tr. 1

(22) Sđd, t. 11, tr. 495

PGS, TS Phạm Hồng Chương

TS Nguyễn Việt Anh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh