Trang chủ    Diễn đàn    Quyền công đoàn và việc bảo đảm quyền công đoàn ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, 10 Tháng 1 2017 15:46
2457 Lượt xem

Quyền công đoàn và việc bảo đảm quyền công đoàn ở Việt Nam hiện nay

(LLCT)Với tư cách là thành viên của hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ thành viên công ước, trong đó có nghĩa vụ nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về quyền công đoàn trong pháp luật Việt Nam và tổ chức thực hiện trong thực tiễn.

1. Một số vấn đề lý luận về quyền công đoàn

Quyền công đoàn là quyền cơ bản của người lao động. Quyền công đoàn được coi là một trong những yếu tố thể hiện mức độ dân chủ và thành tựu bảo đảm quyền con người của một quốc gia. Một đất nước có nền dân chủ thực sự với nền kinh tế phát triển bền vững, cần cho phép những người lao động quyền được tự do thành lập các tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình - đó là tổ chức Công đoàn. Do đó, quyền công đoàn là vấn đề đã được đề cập đến dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau và cũng đã được quy định trong các văn bản pháp lý mang tính quốc tế cũng như trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Ở nhiều nước trên thế giới, quyền công đoàn đã được ghi nhận là một trong những quyền kinh tế, xã hội cơ bản của con người.

Ngược dòng lịch sử cho thấy, để có được giá trị thặng dư, chủ nghĩa tư bản đã không từ một thủ đoạn nào để bóc lột kiệt sức người lao động dẫn đến hành động phản kháng của công nhân đã diễn ra như đập phá máy móc, đốt nhà xưởng, đánh đập chủ nhà máy…; tuy nhiên, hành vi phản kháng này đều bị giới chủ đàn áp. Vì vậy, người lao động trong các công xưởng, nhà máy đã ý thức được tầm quan trọng của việc liên kết lại với nhau để chống lại sự đàn áp của giới chủ. Hình thức ban đầu của tổ chức công đoàn là tổ chức giúp đỡ lẫn nhau do công nhân tự thành lập, như các tổ chức bí mật “Hội tương trợ”, “Hội huynh đệ”, “Hội hữu nghị”... 

Phong trào công nhân và công đoàn, mặc dù bị đàn áp đẫm máu, nhưng cũng đã buộc giai cấp tư sản phải đưa ra sự điều chỉnh về thể chế để làm giảm áp lực xã hội lên chế độ. Các nhà nước tư bản buộc phải lần lượt thừa nhận địa vị hợp pháp của công đoàn, thừa nhận quyền công đoàn của người lao động trong chế độ tư bản chủ nghĩa. C. Mác - Ph. Ăng-ghen soạn thảo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và công bố tháng 3-1848, đánh dấu sự trưởng thành về tư tưởng của giai cấp công nhân và phong trào công đoàn. C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã thành lập Hội Liên hiệp Lao động quốc tế (Quốc tế thứ nhất) vào ngày 28-9-1864 ở Luân Đôn đã vạch ra cương lĩnh cơ bản và tích cực đấu tranh cho các yêu cầu cụ thể của phong trào công đoàn thế giới. Vì vậy, chủ nghĩa Mác đã trở thành tư tưởng chủ đạo của phong trào công đoàn và phong trào công đoàn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động.

Từ khi ra đời cho đến nay, các tổ chức công đoàn đã có nhiều đóng góp to lớn vào tiến bộ xã hội. Ngày nay, công đoàn đã trở thành một tổ chức quan trọng trong hệ thống chính trị của nhiều quốc gia. Theo đó, quyền thành lập, gia nhập liên hiệp các công đoàn và ủy thác cho tổ chức công đoàn quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là thành viên của Công đoàn… được nhìn nhận như những nội dung cơ bản về quyền công đoàn của người lao động(1)

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, quyền công đoàn được ghi nhận trong các Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền con người và Công ước quốc tế về quyền của người lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).

Trong các công ước quốc tế có những điều khoản buộc các quốc gia thành viên khi phê chuẩn hoặc tham gia công ước, phải tôn trọng và tạo điều kiện cho tất cả người lao động tham gia, thành lập công đoàn để bảo vệ lợi ích của họ trong quan hệ lao động với giới chủ.

Điều 23 khoản 4 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948: “Tất cả mọi người đều có quyền, cùng với người khác, thành lập các công đoàn hay gia nhập vào các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”.

Điều 22, khoản 1 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận: “Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”. Điều 8, khoản 1 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 cũng thừa nhận quyền tự do công đoàn của tất cả mọi người: “Các quốc gia thành viên của Công ước cam kết đảm bảo quyền của mọi người được thành lập và gia nhập công đoàn mà mình lựa chọn, để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, với điều kiện là chỉ phải tuân theo quy chế của tổ chức công đoàn đó”.

Năm 1990, Liên hợp quốc cũng cho ra đời thêm một công ước trong lĩnh vực lao động, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động di trú. Trong công ước này, quyền công đoàn của người lao động di trú lao động trên lãnh thổ của quốc gia thành viên cũng được đảm bảo giống như quyền của người lao động trong nước. Với quy định tại Điều 7 về “bảo vệ không phân biệt đối xử” giữa những người lao động có quốc tịch khác nhau, Công ước năm 1990 của Liên hợp quốc về bảo vệ người lao động di trú và thành viên gia đình của họ yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo quyền tự do công đoàn của người lao động nước ngoài như quyền của người lao động trong nước. Nói cách khác, Công ước này cũng đã gián tiếp thừa nhận quyền tự do công đoàn của tất cả mọi người lao động trên lãnh thổ của quốc gia thành viên. Điều 26, Công ước quy định: “Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền của người lao động di trú tham gia vào những cuộc họp và các hoạt động của các công đoàn và các đoàn thể hợp pháp khác, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội và các quyền khác, theo quy định của các tổ chức nói trên”. Quyền công đoàn còn được nêu cụ thể rõ ràng tại Điều 40 của Công ước: “Người lao động di trú có quyền, cùng với những người khác, thành lập các hội và các công đoàn tại đất nước họ đang lao động nhằm thực hiện và bảo vệ các lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội và các lợi ích khác của họ”.

Theo quy định của các văn kiện quốc tế của Liên hợp quốc, tất cả người lao động, kể cả người lao động nước ngoài, đều có quyền thành lập và tham gia các công đoàn theo sự lựa chọn của họ vì mục đích đảm bảo cho lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội của mình.

Ngoài Bộ luật nhân quyền quốc tế của Liên hợp quốc, các công ước của ILO cũng đặc biệt quan tâm ghi nhận quyền tự do công đoàn của người lao động. Điều 2, Công ước số 87 về quyền tự do công đoàn và bảo về quyền công đoàn của Tổ chức lao động quốc tế năm 1948 quy định: “Tất cả người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của họ với điều kiện tuân thủ Điều lệ của các tổ chức đó”.

Như vậy, quyền tự do công đoàn của người lao động theo công ước của ILO cũng bao gồm quyền được thành lập và gia nhập công đoàn theo sự lựa chọn của họ. Theo đó, những người lao động có thể thành lập nhiều công đoàn khác nhau trong một cơ sở lao động và có quyền tự do lựa chọn tham gia vào công đoàn này, hay công đoàn khác để bảo vệ lợi ích của mình một cách tốt nhất.

Nhằm đảm bảo cho quyền công đoàn được thực hiện một cách triệt để, Điều 1 Công ước số 98 của Tổ chức lao động quốc tế về quyền tổ chức và thoả ước lao động tập thể và các thoả ước liên quan năm 1949 quy định: “Những người lao động phải hưởng được sự bảo vệ thích đáng chống lại tất cả các hành vi phân biệt đối xử nhằm xâm phạm đến quyền tự do công đoàn trong lĩnh vực lao động”. Quy định này đã cụ thể hoá các nguyên tắc và quy định của Công ước số 87 về quyền tự do công đoàn nêu trên.

Qua đó cho thấy, Công ước số 87 và Công ước số 98 nêu trên đã xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc đảm bảo các nguyên tắc tự do công đoàn, nhằm bảo đảm quyền tham gia, thành lập công đoàn của tất cả người lao động. Theo đó, quốc gia thành viên của các công ước phải trao quyền cho tất cả người lao động thành lập và gia nhập vào các tổ chức công đoàn theo sự lựa chọn của họ. Các quốc gia, trên thực tế và trong các văn bản quy phạm pháp luật, phải đảm bảo tránh xâm phạm đến quyền tự do công đoàn và việc thực hiện quyền này của những người lao động. Ngoài ra, các quốc gia còn phải thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo cho người lao động thực hiện quyền tự do công đoàn, tránh những hành vi phân biệt đối xử vì lý do người lao động tham gia, thành lập công đoàn…

Tổ chức lao động quốc tế cũng có những công ước nhằm  đảm bảo quyền của người lao động di trú.  Điều 6, Công ước số 97 về người lao động di trú năm 1949, quy định: “Các quốc gia thành viên của Công ước cam kết áp dụng, không phân biệt về quốc tịch của người lao động (…) về quyền tham gia công đoàn và thừa hưởng những lợi ích về thoả ước lao động tập thể”. Tuy nhiên, để được hưởng chế độ không phân biệt nói trên, người lao động di trú phải được phép cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của quốc gia sở tại. Công ước này được phát triển thêm bởi Công ước số 143 về người lao động di trú (năm 1975). Điều 10, Công ước số 143 quy định: “Người lao động di trú phải được hưởng quyền bình đẳng về cơ hội và đối xử, nhất là trong các quyền liên quan đến công đoàn, tự do cá nhân và tập thể khi họ cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của quốc gia tiếp nhận”.

Ngoài các Công ước có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên phê chuẩn, ILO còn có những văn kiện mang tính tuyên bố, khuyến nghị tất cả các quốc gia thành viên của ILO bảo vệ quyền tự do công đoàn không hạn chế của người lao động. Chẳng hạn, Tuyên bố năm 1998 về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động xác định nghĩa vụ các nước thành viên của ILO (kể cả các nước không phê chuẩn những công ước về quyền tự do công đoàn liên quan) phải tôn trọng quyền tự do công đoàn của những người lao động. Như vậy, dù không tham gia, phê chuẩn những công ước của ILO về quyền tự do công đoàn, nhưng ít nhất, các quốc gia thành viên của ILO phải đảm bảo cho tất cả mọi người lao động phải có quyền tham gia, thành lập các công đoàn.

2. Bảo đảm quyền công đoàn ở Việt Nam hiện nay

Với tư cách là thành viên của hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ thành viên công ước, trong đó có nghĩa vụ nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về quyền công đoàn trong pháp luật Việt Nam và tổ chức thực hiện trong thực tiễn.

Ở Việt Nam, quyền công đoàn là quyền hiến định. Ngay từ Hiến pháp năm 1959, khi chưa có bất cứ tổ chức chính trị, chính trị - xã hội nào được quy định trong Hiến pháp thì đã có quy định về Công đoàn Việt Nam thể hiện trong Ðiều 10: "Nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất. Nhà nước dựa vào các cơ quan nhà nước, tổ chức công đoàn, hợp tác xã và các tổ chức khác của nhân dân lao động để xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh tế".

Hiến pháp năm 1980 dành riêng Ðiều 10 quy định về Công đoàn Việt Nam là "Tổng công đoàn Việt Nam là tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, là trường học chủ nghĩa cộng sản, trường học quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước. Trong phạm vi chức năng của mình, công đoàn tham gia công việc Nhà nước và kiểm tra hoạt động của cơ quan Nhà nước, tham gia quản lý xí nghiệp; giáo dục công nhân, viên chức; tổ chức phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa; cùng với cơ quan Nhà nước chăm lo đời sống và bảo đảm quyền lợi của công nhân, viên chức".

Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của Công đoàn Việt Nam. Ðiều 10 đã được sửa đổi, bổ sung, cụ thể là: "Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".

Ðiều 10 của Hiến pháp năm 2013 quy định: "Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".

Quyền hiến định về công đoàn đã được cụ thể hóa trong các văn bản luật và dưới luật để tổ chức thực hiện.

Điều 4, khoản 1 Luật Công đoàn năm 2012 đã khẳng định: Quyền công đoàn là quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động, đoàn viên công đoàn và quyền của tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật và quy định của cơ quan có thẩm quyền; Điều 5. Quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn: 1. Người lao động là người Việt Nam làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn.2. Trình tự, thủ tục thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam;  Điều 9. Những hành vi bị nghiêm cấm: 1. Cản trở, gây khó khăn trong việc thực hiện quyền công đoàn. 2. Phân biệt đối xử hoặc có hành vi gây bất lợi đối với người lao động vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn. 3. Sử dụng biện pháp kinh tế hoặc biện pháp khác gây bất lợi đối với tổ chức và hoạt động công đoàn. 4. Lợi dụng quyền công đoàn để vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.

Quyền Công đoàn được quy định cụ thể từ điều 10 đến 16 Luật Công đoàn năm 2012, theo đó làm rõ vai trò của công đoàn trong bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động như: Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; trình dự án luật, pháp lệnh và kiến nghị xây dựng chính sách, pháp luật;tham dự các phiên họp, cuộc họp, kỳ họp và hội nghị; tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động; phát triển đoàn viên công đoàn và công đoàn cơ sở.

Luật cũng quy định rõ quyền hạn của công đoàntrong tham gia quản lý nhà nước về lao động, quản lý sản xuất kinh doanh, thực hiện quyền làm chủ của tập thể người lao động: Công đoàn trong việc ký kết thỏa ước lao động tập thể với người sử dụng lao động; Công đoàn trong việc kiểm tra, giám sát an toàn lao động, vệ sinh lao động và kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động; với vấn đề đảm bảo tiền lương cho người lao động; Công đoàn với vấn đề kỷ luật lao động và xử lý kỷ luật lao động; Công đoàn trong việc tổ chức, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, nghỉ ngơi, du lịch cho người lao động;Công đoàn trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động và giải quyết tranh chấp lao động.

Từ phân tích trên cho thấy, trong quan hệ lao động, công đoàn là đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động. Khi pháp luật lao động quy định công đoàn cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ quyền lợi của người lao động, tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật lao động thì quyền của công đoàn được cụ thể hóa ở những mức độ khác nhau. Trong thực tiễn, việc thực thi áp dụng các quy định trên đây của pháp luật lao động còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố thuộc về năng lực hoạt động thực tiễn của chính bản thân tổ chức công đoàn.

Thực hiện Luật Công đoàn, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều hướng dẫn cho việc thành lập các tổ chức công đoàn các cấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Theo báo cáo của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2013 - 2018, đến 31 - 12 - 2012, cả nước đã kết nạp mới được gần 3,3 triệu đoàn viên, thành lập mới gần 30.000 công đoàn cơ sở. Tính đến hết năm 2012, cả nước có hơn 7,9 triệu đoàn viên và hơn 114.000 công đoàn cơ sở(3). Việt Nam đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, chất lượng dạy và học của các trường công đoàn, nhất là Trường Đại học Công đoàn và Trường Đại học Tôn Đức Thắng. Vì vậy, chất lượng cán bộ công đoàn nhìn chung được nâng lên cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác công đoàn, về lý luận chính trị và năng lực thực hiện nhiệm vụ. Cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ công đoàn chuyên trách ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đông đoàn viên được quan tâm hơn. Tổ chức công đoàn đã trở thành địa chỉ tin cậy của người lao động, nơi để họ gửi gắm niềm tin, phản ánh thông tin liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động. Chỉ tính riêng Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã tiếp 40.183 lượt người, nhận 30.774 đơn khiếu nại, đơn tố cáo, giải quyết và tham gia giải quyết 24.983 đơn khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật và của Tổng Liên đoàn(4).

Công đoàn các cấp tập trung thực hiện chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ đoàn viên và người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ, phù hợp với chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao chất lượng hoạt động của cả hệ thống tổ chức công đoàn.Công đoàn đã tích cực, chủ động nghiên cứu, tổ chức vận động và thực hiện tốt chính sách, pháp luật liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động (NLĐ), như Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, chính sách tiền lương, tiền thưởng, chính sách bảo hộ lao động, chính sách giải quyết việc làm, chính sách đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động; hướng dẫn, giúp NLĐ ký giao kết hợp đồng lao động (HĐLĐ) với người sử dụng lao động (NSDLĐ); đại diện cho NLĐ thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT), xây dựng quy chế doanh nghiệp; vận động, tổ chức cho NLĐ thực hiện TƯLĐTT, nội quy, quy chế doanh nghiệp; luôn chủ động tham gia và tổ chức vận động NLĐ tham gia kiểm tra, giám sát thực hiện chế độ, chính sách về lĩnh vực lao động, bảo đảm hài hòa lợi ích của NLĐ với lợi ích của NSDLĐ, lợi ích nhà nước và xã hội. Tham gia giải quyết tranh chấp lao động ở cơ sở, phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật, chế độ chính sách của Nhà nước đối với CNLĐ, góp phần xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ.

Những kiến nghị chính đáng của NLĐ được công đoàn cùng với đoàn công tác liên ngành đề nghị doanh nghiệp thực hiện, những vấn đề đòi hỏi thái quá, hoặc nhu cầu của NLĐ vượt quá khả năng của doanh nghiệp thì cán bộ công đoàn giải thích cho NLĐ hiểu và chia sẻ với doanh nghiệp. 

Công đoàn cơ sở tích cực, chủ động, đổi mới tổ chức, đa dạng hóa các hình thức vận động nhằm tập hợp công nhân, lao động trong các doanh nghiệp, cơ quan, các thành phần kinh tế gia nhập và tham gia hoạt động công đoàn.

Công đoàn còn có vai trò hết sức quan trọng trong giải quyết tranh chấp lao động, đình công. Khi đình công xảy ra, công đoàn cơ sở là người trực tiếp tiếp xúc lắng nghe, tập hợp những yêu cầu, kiến nghị của những người tham gia đình công. Thống kê hằng năm của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho thấy, chỉ tính từ tháng 01-2000 đến tháng 6-2011, có 3.602 cuộc ngừng việc tập thể và đình công, trong đó đình công xảy ra ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 2.718 cuộc, chiếm tỷ lệ 75,4%. Nếu những năm 1995 - 2000 tại các doanh nghiệp FDI xảy ra 231 cuộc, chiếm tỷ lệ 56,4% số cuộc đình công trong cả nước, thì trong 5 năm tiếp theo (2001- 2005) số cuộc đình công tăng gần gấp 3 lần, với 627 cuộc, chiếm 64,1%. Riêng 6 tháng đầu năm 2012, có 331 cuộc ngừng việc tập thể và đình công, trong đó doanh nghiệp FDI có 259 cuộc, chiếm 78,25%(5)

Qua nghiên cứu và khảo sát thực tế cho thấy, nguyên nhân chính của tranh chấp lao động là do doanh nghiệp vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; do sự thiếu hiểu biết pháp luật lao động và sự khác biệt về văn hóa giữa người quản lý nước ngoài và NLĐ; xung đột ngày càng bắt nguồn nhiều hơn từ xung đột trực tiếp về lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ.

3. Một số vấn đề đặt ra và giải pháp bảo đảm tốt quyền công đoàn ở Việt Nam hiện nay

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc bảo đảm thực hiện quyền công đoàn ở Việt Nam còn một số hạn chế.

Một số công đoàn cơ sở còn chưa thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ. Ở các doanh nghiệp FDI, hoạt động công đoàn còn nhiều hạn chế, NLĐ chưa thật sự tin tưởng vào cán bộ công đoàn cơ sở.

Công tác tuyên truyền, vận động NLĐ thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật chưa đạt hiệu quả cao. Công tác phát triển đoàn viên, phương pháp hoạt động công đoàn cơ sở chưa được đổi mới mạnh mẽ cho phù hợp với điều kiện mới, nhất là với loại hình doanh nghiệp FDI.

Đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở thường xuyên biến động, trình độ, năng lực còn hạn chế so với yêu cầu. Ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, vị thế của cán bộ công đoàn bị lệ thuộc về mặt kinh tế và quản lý lao động của doanh nghiệp. Cán bộ công đoàn hoạt động kiêm nhiệm; cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn cũng chưa đồng bộ và chưa được tổ chức thực hiện nghiêm, nên không tạo được động lực khuyến khích cán bộ công đoàn nhiệt tình tham gia hoạt động. 

Chất lượng tham gia xây dựng, hoàn thiện một số chính sách, pháp luật liên quan đến đoàn viên, người lao động và công đoàn chưa cao. Vai trò tham gia quản lý, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động ở một số ngành, địa phương, cơ sở hiệu quả còn thấp. Công tác kiểm tra, tham gia kiểm tra giám sát thực hiện chế độ, chính sách chưa đồng đều, có nơi còn hình thức. Công đoàn cơ sở chưa lãnh đạo được đình công theo quy định của pháp luật, tham gia giải quyết tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể, đình công còn bị động, lúng túng. Hoạt động tư vấn pháp luật, tư vấn nghề, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm chất lượng, hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu của đoàn viên, người lao động.

Công tác vận động lao động nữ còn dàn trải, một số nơi chủ yếu tập trung vào các hoạt động bề nổi, thiếu quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách đối với lao động nữ, nhất là lao động nữ làm việc ở các khu công nghiệp và doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Những hạn chế trong bảo đảm thực hiện quyền công đoàn ở Việt Nam hiện nay là do các nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Nguyên nhân khách quan: Mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường và những tiêu cực trong xã hội đã có ảnh hưởng trực tiếp đến đội ngũ người lao động, quyền công đoàn trong đó có hoạt động công đoàn.

Hệ thống pháp luật, chính sách chưa đồng bộ; một số văn bản, quy định được ban hành nhưng còn chồng chéo và không nhất quán, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lao động trên một số mặt còn hạn chế; một số quy định của pháp luật không được thực thi nghiêm túc; quyền lợi hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động ở nhiều nơi còn bị vi phạm.

Chưa có cơ chế đầy đủ và chặt chẽ để bảo vệ cán bộ công đoàn, nhất là đối với cán bộ không chuyên trách.

Vấn đề xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn tuy đã được Đảng và Nhà nước quan tâm nhưng chưa đồng bộ và thiếu cụ thể. Đã qua 5 năm thực hiện Nghị quyết số 20 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam nhưng những vấn đề bức xúc đã nêu trong nghị quyết đến nay vẫn chưa được thực hiện đầy đủ; nhiều cơ chế, chính sách chưa được ban hành. Một số cấp uỷ và cơ quan chính quyền nhận thức chưa đúng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn, có lúc còn coi nhẹ hoặc can thiệp quá sâu vào hoạt động của công đoàn; có những chính sách, chế độ liên quan đến công nhân, viên chức, lao động, cán bộ công đoàn không phù hợp, công đoàn đã kiến nghị nhiều lần nhưng chưa được nghiên cứu bổ sung, sửa đổi. Kinh phí dành cho sự phát triển tổ chức và hoạt động của công đoàn cơ sở ngoài nhà nước còn rất hạn chế.

Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức của một bộ phận đoàn viên, người lao động, cán bộ công đoàn về giai cấp công nhân, về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đầy đủ, sâu sắc.

Nhận thức của một bộ phận đoàn viên, người lao động, cán bộ công đoàn về giai cấp công nhân, về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đầy đủ, sâu sắc.

Các chức năng của công đoàn còn chậm được cụ thể hoá và vận dụng thực hiện linh hoạt cho phù hợp với tổ chức và hoạt động công đoàn trong từng thành phần kinh tế.

Việc xác định nhiệm vụ, phân công, phân cấp chỉ đạo đối với công đoàn cấp trên cơ sở, công đoàn ngành Trung ương và liên đoàn lao động địa phương còn một số vướng mắc nhưng chậm được giải quyết. Tình trạng hành chính, quan liêu, kinh nghiệm chủ nghĩa chưa được khắc phục triệt để trong một bộ phận cán bộ công đoàn.

Tài chính của công đoàn còn gặp nhiều khó khăn, không đủ cho hoạt động ở nhiều ngành, địa phương, cơ sở. Còn có tư tưởng trông chờ, thiếu chủ động trong công tác tài chính.

Bảo đảm quyền công đoàn ở Việt Nam hiện nay có những thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen.

Thế giới tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng và phức tạp khó lường; hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học tiếp tục phát triển; cạnh tranh kinh tế thương mại giữa các nước ngày càng gay gắt; khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu để lại nhiều hậu quả nặng nề chưa thể sớm khắc phục; xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo còn diễn biến phức tạp.

Trong nước, những thành tựu, kinh nghiệm của gần 30 năm đổi mới đã tạo cho đất nước thế và lực mới lớn hơn nhiều so với trước. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật, chính sách tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện; hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từng bước được khắc phục có hiệu quả. Tuy nhiên, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại; hiệu quả đầu tư trong nước chưa cao, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát tăng; nợ xấu ngân hàng còn nhiều; thị trường bất động sản trầm lắng; sản phẩm hàng hoá tồn kho còn ở mức cao; đối tượng lao động trình độ thấp sẽ khó khăn tìm kiếm việc làm, nguy cơ mất việc và thất nghiệp dễ xảy ra; quan hệ lao động vẫn còn diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chính trị ở nước ta.

Trong bối cảnh hiện nay, muốn đảm bảo tốt quyền công đoàn ở Việt Nam cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:

Một là, trong cơ chế mới của nền kinh tế, cần nhìn nhận tổ chức công đoàn theo một quan điểm mới. Hiện nay, công đoàn không thuần túy chỉ là “cầu nối” của Đảng đến giai cấp công nhân mà còn là đại diện thực sự của công nhân, là “đệm giảm sốc” cho những va chạm, xung đột phát sinh trong quan hệ xã hội giữa một bên là giai cấp công nhân -người lao động với một bên là giới chủ - người sử dụng lao động.

Hai là, cần nhận thức lại mối quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động không phân biệt là trong doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp ngoài nhà nước. Phát triển nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi căn bản về quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp nhà nước, giữa chủ và người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Ba là, các cấp ủy và cán bộ lãnh đạo phải thấy được tầm quan trọng vai trò của công đoàn trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phải tôn trọng tính độc lập, lao động sáng tạo của công đoàn; tạo điều kiện để cho công đoàn hoạt động hiệu quả; giám sát việc thi hành Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn ở các đơn vị ngoài quốc doanh, hạn chế tình trạng “trắng” công đoàn trong các đơn vị này(6).

Bốn là, Nhà nước phải quan tâm tạo điều kiện cho Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ, trong đó đặc biệt là nhiệm vụ phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ công đoàn. Tập trung nghiên cứu, xây dựng và thực hiện có hiệu quả chương trình “Phát triển đoàn viên giai đoạn 2013 - 2018” và chương trình “Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ công đoàn”.

Thường xuyên quan tâm công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở và xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh, trong đó đặc biệt chú trọng đối với khu vực kinh tế ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Coi trọng việc tuyên truyền làm cho người lao động hiểu rõ về tổ chức công đoàn, quyền và nghĩa vụ của đoàn viên, từ đó tự nguyện gia nhập công đoàn và tích cực tham gia hoạt động trong tổ chức công đoàn. Tập trung nghiên cứu, đề xuất với Đảng, tham gia với Nhà nước xây dựng chính sách hỗ trợ có hiệu quả cho công tác phát triển đoàn viên và xây dựng công đoàn cơ sở.

Nâng cao chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn, đẩy mạnh việc xây dựng công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn vững mạnh, nhất là trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nghiên cứu, bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách ở các doanh nghiệp có từ 1.000 lao động trở lên.

Nghiên cứu, hoàn thiện về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn các cấp phù hợp với hình thức sở hữu, loại hình công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, bảo đảm bộ máy, tổ chức cán bộ làm việc có hiệu quả. Xác định rõ nhiệm vụ, quan hệ phối hợp, tránh sự chồng chéo trong chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ của liên đoàn lao động tỉnh, thành phố với công đoàn ngành trung ương trong việc chỉ đạo công đoàn cơ sở.

Tổ chức công đoàn phải xuất phát từ vị trí, vai trò, chức năng của mình để đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, thích hợp. Các cấp công đoàn cần nhận thức một cách đầy đủ và thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, trong đó đặc biệt coi trọng chức năng chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động, tập trung làm tốt công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, nhất là trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ công đoàn; tăng cường nguồn lực tài chính; mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại. Thông qua hoạt động, xây dựng và phát triển tổ chức công đoàn, góp phần tích cực xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh.

____________________

(1) PGS,TS Nguyễn An Ninh, NCS Vũ Anh Đức: “Quyền công đoàn của người lao động và hiện thực hóa quyền này - Kinh nghiệm của thế giới và thực tiễn Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản ngày 18-10-2016.

(2) ThS.Cao Nhất Linh Phó trưởng bộ môn, Khoa Luật Đại học Cần Thơ, “Quyền thành lập, tham gia công đoàn trong luật quốc tế và luật Việt Nam”, theo http://www.nclp.org.vn.

(3), (4) http://www.congdoanvn.org.vn/gioi-thieu/cac-ky-dai-hoi-cdvn-491/dai-hoi-cong-doan-viet-nam-lan-thu-xi-62637.tld.

(5) http://www.congdoanvn.org.vn

(6) Theo http://congdoanbinhthanh.org.vn.

PGS,TS Nguyễn Thị Báo

Chánh Thanh tra Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

 

 

Các bài viết khác